NHỚ CHÙA LINH SƠN ĐÀ LẠT


Tâm Minh Ngô Tằng Giao
22/06/2013 15:24 (GMT+7)
Số lượt xem: 93457
Kích cỡ chữ:  Giảm Tăng

Từ một làng thổ dân hẻo lánh Đà Lạt đã biến thành một đô thị tân tiến, một trung tâm du lịch, một thành phố văn hóa, một tài sản quý. Thấm thoắt mà đã hơn một trăm năm rồi! Đà Lạt trước kia được ví như một mỹ nhân:


“Như là thiếu nữ mỹ miều

Khoác ngoài chiếc áo diễm kiều phương Tây

Nép mình quý phái bên cây

Yên bình đọc sách, tóc mây buông dài.”

(Tâm Minh)

      Đến với thành phố Đà Lạt, rồi xa cách, rồi chia lìa, ai cũng có lòng nhung nhớ, nhất là những người tha hương. Không phải chỉ nhớ cảnh, nhớ người mà tưởng chừng như còn văng vẳng trong tâm hồn người cả tiếng chuông chùa thanh thoát nữa. Vì bên cạnh những cành hoa tươi đẹp nết na mỹ miều của Đà Lạt còn có những cành Hoa Đàm Vô Ưu lung linh nở hương đạo trước Phật Đài cổ kính. Đó là những ngôi chùa với lối kiến trúc cổ kính đã từ bao đời nay ấp ủ tình dân tộc. Trong số đó phải kể đến chùa LINH SƠN, một danh lam thắng cảnh bậc nhất của xứ hoa đào.

        Chùa LINH SƠN tọa lạc trên một ngọn đồi giữa vườn trà xanh, cách trung tâm thành phố gần một cây số về phía Tây Bắc. Chùa được dựng vào năm 1936 và hoàn thành vào năm 1940. Chùa do ông Võ Đình Dung đứng ra điều khiển kỹ thuật và ông Nguyễn Văn Tiến cùng với công đức của thập phương bá tánh.

      Được biết ông Võ Đình Dung đến Đà Lạt năm 1930 với hai bàn tay trắng, qua một thời gian ông đã trở thành một nhà tư sản, giàu có bậc nhất Đà Lạt. Ông là một nhà thầu khoán tên tuổi, ông đã từng thầu cất rất nhiều công trình ở Đà Lạt: dinh Bảo Đại, ga xe lửa...

      Tuy giàu có nhưng đời sống của ông là đời sống rất mực thanh đạm của một cư sĩ, tu tại gia, làm nhiều việc nhân đức. Khu Mả Thánh, phần nghĩa địa với diện tích rất rộng lớn cũng do ông cúng dường cho âm linh của thành phố. Mả Thánh là một nghĩa trang Phật Giáo được thành lập năm 1938 trên một quả đồi gần cây số 4, trên đường đi Suối Vàng.”  

     Chùa LINH SƠN với lối kiến trúc Á Đông, giản dị và hài hòa, hai mái xuôi nghiêng, hơi cong ở phía cuối trên có hai con rồng đối xứng uốn khúc mềm mại giữa nền trời cao thường có mây trắng bay. Bên cạnh có ngôi tháp ba tầng hình bát giác và cách đó không xa là ngôi trường Phật học. 

      Thông thường cổng chùa thường xây theo cổng tam quan. Song cổng chùa Linh Sơn chỉ xây hai vách cao 4m, cách nhau 5m có mái lợp, bậc cấp được xây bằng đá, cửa cổng có thể hiến cho du khách một chỗ tạm nghỉ chân mà không sợ mưa nắngi.  

       Đường vào chùa được dẫn lên nhiều cấp, hai bờ đường là hai hàng cây thông, bạch đàn, sao, cao vút quanh năm thì thào với gió núi mây ngàn. Đêm về những ngọn đèn bên ngoài tỏa sáng mông lung trong sương lạnh điểm tiếng chuông ngân nga vang vọng làm cho cảnh trí Linh Sơn thêm phần trầm mặc, u nhàn.

      Trên lối đi trước sân chùa cách cổng chính 30m có dựng một bức tương Quán Thế Âm Bồ Tát màu trắng đứng trên đài sen cao, khói hương nghi ngút, nơi chiêm bái của tín đồ và du khách vì tinh thần cứu khổ độ sinh là bản nguyện của Ngài.   

     Một con đường lát đá, tráng nhựa là đường dành cho xe cộ từ ngoài vào bọc quanh sân chùa, chạy qua sau lưng bức tượng và trước sân chùa rồi rẽ phải lên đến sân của cánh hậu tòa viện. Bên phải phần cuối con đường này là giả viên Lâm Tỳ Ni được trang trí rất nghệ thuật, có các giả sơn, có các thảo mộc quý. Giữa đám xanh của cây cỏ là một cái ao nhân tạo bên trong có hoa súng và cá vàng.

      Qua sân cỏ là đường dẫn đến cầu thang có mười ba bực lên đến hành lang Phật đường. Hai bên cầu thang có bể nước trong đó nhô lên hòn non bộ có các cây kiểng gợi cảnh thiên nhiên. Xuôi theo cầu thang là cặp Rồng lớn há miệng được điêu khắc một cách nghệ thuật làm vị song thần gìn giữ ngôi chùa.

     Trên điện Phật thờ tượng đức Thích Ca Mâu Ni bằng đồng xanh đang tham thiền nhập định trên một tòa sen đúc bằng đồng, nặng 1.250 kg, được đúc năm 1952.

      Bên trái chính điện là Tổ đường - nơi thờ Ðạt Ma Sư Tổ, ngoài cái trống lớn có đường kính 0m75 thì đây cũng là nơi đặt bài vị các vị sư đã viên tịch và những người đã khuất mà thân nhân họ đưa vào chùa với niềm tin “để linh hồn được hưởng hương khói và nghe kinh mỗi ngày”.

      Bên phải chính điện là tượng Hộ pháp Di Đà, gần đó đặt khung gỗ quý treo “Ðại Hồng Chung” nặng 450 ký. Lầu chuông và lầu trống được bố trí cách nhau 12m trước Phật đường. Quả chuông đúc vào năm 1950, cao 1m80 cân nặng 40 ký do các nghệ nhân “Phường Đúc Huế” tạo thành. Phía trái là ngôi tháp ba tầng đứng trên một nền cao 14m, hình bát giác góp phần vẻ tôn nghiêm, mỹ thuật cho chùa. 

      Trước tiền đường, trên các cột có treo nhiều cặp câu đối đượm ngát Thiền vị, như:

      “Lâm Viên tại xứ tác Kỳ viên, Thái tử thọ, trưởng giả kim. Đương Niệm hiện thành, cổ kim như thị.

     Đa Lạt bổn lai chân cực lạc, thất trùng lâu, bát đức thủy. Duy tâm nhược ngộ, bỉ thử hà phân.”

      ( Lâm viên ngay đấy chính Kỳ viên, thái tử dâng cây, trưởng giả hiến vàng. Một niệm tựu thành, xưa nay như thị.

     Đa Lạt xưa nay là cực lạc, lâu đài bẩy lớp, nước báu tám đức. Riêng tâm tỏ ngộ, đây đó chẳng hai.)

      Và cặp câu đối:

      “Sơn sắc đạm tùy nhân nhập viện

     Tùng thanh tĩnh thính khách đàm thiền.

      (Màu núi nhạt