Đã cập nhật: 0 phút
Số lượt xem: 111146
Kích cỡ chữ:  Giảm Tăng

Sống và làm việc hết mình, tùy duyên theo lẽ trời , tùy tục theo lẽ người, tất cả vì lợi ích của bản thân và cộng đồng dân tộc” thì quả thật Hồ Chí Mình của chúng ta rất thiền

Hầu như từ xưa đến nay cứ nói đến Thiền là người ta nghĩ đến một người ngồi tĩnh lặng, tập trung để không suy nghĩ gì hoặc chỉ suy nghĩ vấn đề giải thoát bản thân, không để cho ngoại cảnh tác động đến nội tâm. Thiền (thiền-na) vốn phiên âm từ DHYANA (tiếng Sankrit), có nghĩa là suy nghĩ trong tĩnh lặng (tĩnh lự). Cho nên khi nói Thiền Đại Việt là một loại Thiền khác biệt với Thiền Ấn Độ, Thiền Trung Hoa, Thiền Nhật Bản . . . thì chắc chắn có nhiều người không tránh khỏi kinh ngạc: Thiền Đại Việt là Thiền động (Hành diệc Thiền, tọa diệc Thiền = đi cũng Thiền, ngồi cũng Thiền). Và càng kinh ngạc khi nghe nói đến Thiền Hồ Chí Minh - một đỉnh cao mới của Thiền Đại Việt ở thế kỷ XX. 

Hẳn lại càng kinh ngạc hơn nữa khi nghe nói rằng Thiền Đại Việt, Thiền Hồ Chí Minh là thuộc phạm trù Minh triết Việt. Nghiên cứu là phát hiện. Chúng tôi đã phát hiện ra những vấn đề trên. Và đó cũng là nội dung trình bày trong bản tham luận này để trình quý vị đại biểu tham khảo.. 

I Đặc trưng của Thiền Đại Việt? 

Chúng ta may mắn có một đồng bào người Việt sống cách ta khoảng 8 thế kỷ đã khẳng định bằng văn bản một quan điểm khác biệt với Thiền truyền thống. Quan điểm này đã được khẳng định trong hành động thực tiễn, và hành động đạt hiệu quả. 

Quan điểm về Thiền của ông thực sự là khác biệt, khác biệt lớn đến mức người ta muốn quên ông đi nhưng quên không nổi. Một số ít người nhắc đến ông nhưng lại không nói hết đựơc nội dung chủ yếu mà ông đã đề xuất và thực hành. Người đó chính là ngài Tuệ Trung Thượng sĩ Trần Tung, sư huynh của vua Thiền Trần Thái Tông, sư phụ của vua Thiền Trần Nhân Tông. Ngài vừa là thiền gia, vừa là triết gia, vừa là thi nhân, lại vừa là dũng tướng. Thật là một nhân vật lịch sử hiếm có trong đời. Daisets Teltaro Suzuki, tác giả tập Thiền luận nổi tiếng của Nhật Bản và những nhà nghiên cứu thiền học ở Trung Hoa cũng như ở thế giới không biết đến ông.

Đó là điều thiếu hụt của họ và đáng tiếc/thiệt thòi cho họ. Không phải cứ là Thái Sơn thì mọi người đều thấy. Những màn sương, những lớp bụi của thời gian và tư duy bất cập khiến cho con người không ngừng nhầm lẫn. Người La-mã thực có lý khi nói rằng: ”Erera humanum est.” (Con người là nhầm lẫn). Có lẽ chưa ai nói và viết dứt khóat và dữ dội như Tuệ Trung Thượng sĩ Trần Tung: Hành diệc Thiền, tọa diệc Thiền Nhất đóa hồng lô hỏa lý liên. (Phật Tâm ca) (Đi cũng Thiền,ngồi cũng Thiền Trong lò lửa đỏ một bông sen) Ông lại dõng dạc tuyên bố: Thanh văn tọa Thiền, ngã vô tọa Bồ Tát thuyết pháp, ngã thực thuyết (Thanh văn ngồi thiền , ta không ngồi (thiền) Bồ Tát nói pháp ,ta nói thực tại) Với Tuệ Trung,Thiền không chỉ là tĩnh tọa mà còn là động hành, không chỉ là suy nghĩ trong tĩnh lặng mà còn là suy nghĩ trong hành động. 

Đóa sen tư duy của ông là bất biến trong cái lò lửa vạn biến của thực tại. Đối với ông, thực tại của đất nước là quan trọng nhất, đáng quan tâm nhất, hơn mọi thứ Phật pháp, mọi thứ lý luận trên đời. Và có bàn lý luận thì cũng tập trung bàn vì lợi ích của cộng đồng Dân tộc và Đất nước. 

Ai muốn hiểu thêm lý lẽ, quan niệm về Tâm và Phật, Phàm và Thánh và những vấn đề khác của ông để hiểu rõ thế nào là Thiền Tuệ Trung, xin mời đọc Thượng sĩ ngữ lục ( bản dịch của Trúc Thiên) và Tuệ Trung Thượng sĩ với Thiền tông VN (Kỷ yếu khoa học của Trung Tâm Hán Nôm TPHCM, in lần I năm 1992, lần II năm 1995, lần III năm 2000) Có điều cần lưu {là: với Tuệ Trung Thượng sĩ và Thiền phái Trúc Lâm, cũng như nhiều thiền sư thời Lý như Khuông Việt, Vạn Hạnh, Ni sư Diệu Nhân , Ni sư Ỷ Lan thì khái niệm Thiền đã mở rộng và xiển dương, phá chấp đến mức giới Thiền học truyền thống ở ta cũng như ở các nước khó chấp nhận: ngồi cũng là Thiền, đi cũng là Thiền, tham gia triều chính cũng là Thiền, thậm chí giết giặc cứu nước cũng vẫn là Thiền. 

Giới nghiên cứu Thiền học Việt Nam chưa quan tâm đầy đủ đến những đặc điểm ưu việt của Thiền Đại Việt (thời Lý Trần). Nhưng nhân dân thì hoan hỉ tiếp nhận vì rõ ràng nó phù hợp với nguyện vọng của quảng đại quần chúng, phù hợp vói thực tiễn dựng nước và giữ nước của Việt tộc. “Sát sinh” thì phạm ngũ giới nhưng “sát thát” đến mức không còn bóng một tên Thát xâm lược (Nguyên Mông) nào trên đất nước để giữ vững nền độc lập và bảo vệ chúng sinh chẳng lẽ lại là trái với lý tưởng cao cả của ngài Thích-ca-mâu-ni và mọi đấng Bồ-tát? Và đây là sự trùng hợp của hai lý tưởng: lý tưởng Phật giáo và lý tưởng Đại Việt. Lý tưởng Đại Việt bắt nguồn từ đâu? Nó bắt nguồn từ Đạo Mẫu mà tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Bà Triệu.

Lời tuyên ngôn của Bà Triệu đã được Hội Liên hiệp Phụ nữ Quốc tế coi là danh ngôn và phương châm hành động: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp đường sóng dữ, chém cá tràng kình ở biển Đông, quét sạch bờ cõi, để cứu dân ra khỏi nơi đắm đuối, chứ không thèm bắt chước người đời cúi đầu cong lưng để làm tì thiếp người ta.” Đó là khí phách hào hùng, làm chí yêu độc lập, tự do mà từ hàng ngàn năm nay dân tộc ta vẫn liên tục quyết tâm thực hiện. Chẳng còn gì phải nghi ngờ: những người kế thừa và phát huy mạnh mẽ nhất ý chí và truyền thống này chính là Hồ Chí Minh và Đảng của Người. 

 Ảnh sưu tầm trên Internet

II. Thiền Hồ Chí Minh kế thừa và phát huy Thiền Đại Việt. 

Cần chú ý hai đặc điểm lớn nhất của Thiền Đại Việt: 

1- Thản nhiên truớc mọi biến động của ngoại cảnh. 

2- Tập trung { chí và hành động vào mục đích giải thoát cộng đồng dân tộc khỏi mọi xiềng xích nô lệ. 

Giới nghiên cứu Sử học nước ta còn ít chú ý nghiên cứu, lý giải thái độ thản nhiên truớc siêu cường Nguyên Mông của