NGỌN
LỬA VÀ TRÁI TIM
Với tôi Nha Trang-Khánh Hòa là nỗi nhớ, là vùng đất
địa linh, đất Phật, từ quá khứ đến hiện tại và chắc
chắn là cả tương lai nữa. Đất Nha Trang - Khánh Hòa là đất lành cho
nên các loài chim đến đậu: Phía Phật giáo các các cao tăng Hòa thượng như HT. Trí
Nghiêm, HT.Đỗng Minh, HT. Tịch Tràng, HT. Viên
Giác, HT. Thiện Bình, HT. Chí Tín...
không phải là người Khánh Hòa. Các nhà văn Quách Tấn, Võ Hồng, Quách Giao không
phải là người Khánh Hòa, nhưng xem Khánh Hòa là quê hương thứ hai của
mình. Trước Năm 1975 Nha Trang có Phật học viện trung
phần,viện cao đẳng Phật học Hải Đức, và hiện nay có trường trung cấp Phật học Khánh Hòa.
Chư
tôn đức Tăng Ny - Quan khách - Phật tử tham dự lễ khai
mạc
Nhân đại
lễ kỷ niệm 50 năm Bồ tát Quảng Đức vì pháp thiêu thân (1963-2013) Ban Trị Sự GHPGVN tỉnh Khánh Hòa có mời BTS Phật giáo tỉnh Gia Lai tham dự, đoàn Phật giáo Gia
Lai chỉ có hai vị: Tôi và HT. Thích Tâm Tường, trưởng ban trị sự Phật giáo tỉnh. Từ Gia Lai đi quốc lộ 14 đến địa phận tỉnh Đăk
Lăk rẽ sang quốc lộ 26 đến Ninh Hòa chúng tôi tìm
thăm các ngôi chùa, tổ đình ở Ninh Hòa do Bồ tát Quảng Đức khai sơn, trùng tu, ẩn tu đó là tổ đình sắc tứ Thiên Bửu thượng, Thiên Bửu hạ, chùa Thiên
Tứ ,chùa Đức Hòa. Chúng ta học lịch sử trong thư tịch sách vở không thể nào bằng
đi thực tế, đi tìm về cội nguồn lịch sử, bởi khi tiếp cận với di tích, di vật, nhân chứng sống lòng chúng ta rung động, cảm xúc hơn rất nhiều. Chùa Thiên Tứ nơi Bồ tát một thời tu
hành, cái chuông cái mõ Bồ tát hành trì,
di ảnh của Bồ tátngày còn trẻ vẫn
còn, xá lợi xương của Bồ tát vẫn còn tôn thờ nơi đây, những giai thoại về Bồ tát đã
được Đại đức Như Hoằng trụ trì chùa Thiên Tứ sưu tầm suốt 25 năm với
những nhân chứng sống. Đọc lại những giai thoại của Bồ tát về cách: Trị bệnh tà thần con ranh
con lộn ( càn sát quái)1920, Sự hiếu nghĩa của Bồ tát, Bồ tát đi
chợ nấu ăn cho đệ tử làm chùa 1935, Bồ tát hái thuốc và quy
y thai nhitrong bụng mẹ 1937, trị
bệnh bằng nước lạnh tại làng Mỹ Trạch 1944.... Tất cả những giai thoại về Bồ tát Thích Quảng Đức đều toát lên lòng từ bi vô hạn đối với con người, quần chúng khổ
đau cơ cực. Hòa thượng Thích Ngộ Tánh
phó ban trị sự PG tỉnh, trưởng ban trị sự PG huyện Ninh Hòa cho chúng tôibiết:" Phật
giáo huyện Ninh Hòa hiện nay có trên 80 ngôi chùa, 240 Tăng Ny, là
nhờ ân đức của Bồ tátgiáo hóa, khai sơn, trùng tu của các ngôi tổ đình ngày xưa còn lại, từ đó đâm chồi nảy lộc cho ngày
hôm nay".
"Chùa là văn hóa gốc, ngôi chùa còn là văn hóa còn. Văn hóa còn
là góp phần làm cho đất nước phồn vinh vững bền mãi
mãi" chính từ ý nghĩa đó mà suốt
đời Bồ tát không khi nào là
không nghĩ đến xây chùa, trùng tu chùa.
Ba mươi mốt ngôi chùa mà Bồ tát trùng tu xây dựng không
phải là ít với thọ mạng 73 tuổi. Nhân duyên gì mà Bồ
tát xây dựng được nhiều chùa
như thế ? Câu trả lời là do lòng từ bi của Bồ
tát quá lớn ( Đại Từ Bi) chúng sinh đau khổ triền miên, ngụp lặn trong vô minh phiền não,
không có chùa thờ Phật, không có Tăng Ny
hoằng đạo làm sao chúng ta thấy được
ánh sáng trí tuệ, làm sao chúng ta có được từ
bi. Không có từ bi và trí tuệ chúng sinh mãi mãi khổ đau , ngụp lặn trong luân hồisinh tử. Làm con
người, thân phận người chúng ta tích tụ những dư nghiệp, tập khí từ quá khứ, nhất thời có
thể sân hận mất từ bi, nhưng chỉ cần nhận
diện mất từ bi là mất tất
cả, phải biết trở về với hơi thở, nhận diện cảm xúc, khôi phục chánh
niệm lại liền để trở lại trạng thái nguyên sơ con người tính vốn thiện, tính vốn từ bi để tha thứ cho
nhau sống vì nhau trong cõi đời vốn dĩ đã quá đau khổ và
nhiều chấp trước này.
Giống như Thánh Mahatma Gandhi Ấn Độ, đấu tranh giành lại
nền độc lập cho Ấn Độ từ chính quyền Anh , bằng cách tuyệt thực, bằng phương
pháp bất bạo động (ahiṃsā). Bồ tát cũng vậy lấy thân mình làm đuốc để soi sáng cho một chế độ độc tài gia đình trị.
Ngài thương Đức Phật, thương
Đạo là vậy màkhi biết được Đạo của
mình bị bức hại, có thể đưa đến chỗ diệt vong vẫn
không hận thù kẻ bức hại Đạo mình.
Trong lời nguyện tâm huyết để lại
trước khi tự thiêu Bồ tát có viết:" Trước khi nhắm mắt
về cảnh Phật, tôi trân trọng kính gởi
lời cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm nên lấy lòng bác ái từ bi đối
với quốc dân, thi hành chính
sách bình đẳng tôn giáo để nước nhà xưng yến muôn
thuở" Bồ tát đã thực hiện lời dạy của Đức Phật trong kinh
Pháp cú một cách trọn vẹn nhất.
|
3. Nó mắng tôi, đánh tôi,
Nó thắng tôi, cướp tôi
Ai ôm hiềm hận ấy,
Hận
thù không thể nguôi.
|
|
4. Nó mắng
tôi, đánh tôi,
Nó thắng tôi, cướp tôi
Không ôm hiềm hận ấy,
Hận
thù được tự nguôi.
|
Cùng ý kinh
Pháp cú Hòa thượng Trí Quang vị lãnh
đạo tối cao trong phong trào Phật giáo tranh đấunăm 1963 có nói: "Chúng tôi
nguyện đem xương máu trang trải cho Phật Pháp,
và nếu chết là chết như cái chết của chân lý trước
bạo lực, chứ không phải bạo lực này chết vì kém bạo lực khác ".
Buổi sáng 28-5-2013 (19-4-Quý Tỵ) chúng tôi dự lễ khai
mạc đại lễ kỷ niệm 50 năm Bồ tát Quảng Đức vì
pháp thiêu thân (1963-2013) tại chùa Long Sơn tỉnh hội Phật giáo Khánh Hòa. Không khí trang nghiêm, pho tượng Bồ
tát phục chế lại từ pho tượng tại công viên Tượng đài Bồ tát Thích Quảng
Đức tại địa điểm 70 - 72 Cách Mạng Tháng
Tám, Q.3 thành phố Hồ Chí Minh, lửa cách
điệu phủ quanh thân Bồ tát, người ngồi yên nhập đại
định, toát ra, biểu hiện ra được Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ Bi. Ấn tượng đọng
lại và sâu lắng nhất là lời đạo từ của Hòa thượng Phó Pháp chủ
GHPGVN Thích Đức Nghiệp ngài nói:" Năm 1963 năm Bồ tát Quảng Đức tự thiêu tôi có 34 tuổi năm đó tôi là người tổ
chức chính cho Bồ tát tự thiêu, 50 trôi qua tôi
nay đã 84 tuổi nhớ lại ngày ấy cảm xúc vẫn
còn mới tinh. Lúc nảy ông Bùi Hữu Dược vụ trưởng vụ Phật giáo có đọc câu đối của Hồ Chủ Tịch phúng
viếng ca ngợi sự tự thiêu của Bồ tát cho đạo pháp và dân tộc ngày 20/4 nhuần năm Quý Mão
1963: " Vị pháp thiêu thân vạn cổ hùng
huy thiên nhật nguyệt - Lưu danh bất tử thiên
niên chính khí địa sơn hà" tôi
xin được dịch ra cho dễ hiểu:"
Vì Pháp thiêu thân muôn thuở oai hùng
trời rực sáng - Lưu danh bất tử ngàn năm chính
nghĩa đất thăng hoa". 84 tuổi HT. Phó pháp chủ giọng vẫn còn khí lực, trí nhớ vẫn còn minh
mẫn rất tốt, vẫn còn sắc bén như năm 1963 lúc đó là Đại đức Đức Nghiệp làm ủy viên ngoại giao cho Ủy
ban liên phái bảo vệ Phật giáo. Năm mươi năm trôi
qua vận nước vận đạo có thăng có trầm theo quy luậtcác Hòa thượng cao tăng trong ủy ban liên phái bảo vệ Phật giáo đến
giờ này ( trong nước) chỉ còn vài vị HT. Thích Trí Quang trên 90 tuổi, HT. Thích Đức Nghiệp trên
80 tuổi... Năm 1963 không có các vị cao tăng lãnh đạo đấu tranh cho sự tồn vong của đạo
pháp, không có Bồ tát Thích Quảng Đức tự thiêu với
trái tim không cháy, rung động hằng
triệu trái tim trong và ngoài nước không biết Phật
giáo Việt Nam còn mất thế nào? Nhờ sự hy
sinh cao cả của các vị Cao tăng, Phật tử, của Bồ tát Thích Quảng Đức mà bài thơ Lửa từ bi của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương ra đời, ca ngợi lòng từ bi
và hùng lực của Bồ tát và từ đây Phật giáo Việt Nam bước qua một trang sử mới:
Lửa, lửa cháy ngất tòa sen,
Tám chín phương nhục thể trần tâm hiện thành thơ,
quỳ cả xuống
Hai vầng
sáng rưng rưng
Đông Tây
nhòa lệ ngọc
Chắp tay đón một mặt trời mới mọc
Ánh Đạo vàng phơi
phới đang bừng lên, dâng lên
Lễ khai mạc diễn ra thật trang nghiêm trọng thể nhiều cảm xúc, tiếp tục chương trình ban tổ chức mời chư tôn đức Tăng Ny tham dự lễ cắt băng triển
lãm:" Ngọn lửa và trái tim". Lịch
sử đã đi qua 50 năm nhưng hình ảnh còn
để lại, xem những bức ảnh đen trắng của Bồ tát và
chư thánh tử đạo hy sinh cho Phật pháp trường tồn,
nhiều Phật tử đã lấy khăn chặm nước
mắt.
11giờ 30 chúng tôi về chùa Thiên Hòa ở đường Yersin thọ
trai, ngồi bên cạnh giáo sư Cao Huy Thuần, Cụ Nguyễn Chính ( nguyên
trưởng ban tôn giáo chính phủ) vừa
ăn vừa trò chuyện nhẹ nhàng. Cụ Nguyễn
Chính nói:" Lúc nảy HT. Thích Đức Nghiệp ban đạo
từ các vị lãnh đạo tỉnh
Khánh Hòa chăm chú lắng nghe và rất tâm đắc về
sự hy sinh cao cả của Bồ tát Thích Quảng
Đức, có gì đâu mà cứ đắn đo e
ngại về ngày lễ kỷ niệm Bồ tát hy sinh cho đạo pháp và dân tộc, tôi chưa từng nghe chính
quyền nhắc nhở hạn chế về ngày lễ kỷ niệm này". Giáo sư Cao Huy Thuần
tiếp lời nói vui: " Chỉ do nội
bộ lo xa e dèthôi,
lo trước cái lo của thiên hạ". Giáo sư nhắc lại câu nói nổi tiếng của Phạm
Trọng Yêm (*)
Tóm lại:
1- Lãng quên lịch sử là một cái tội, không dám nhắc đến lịch sử là một cái tội khác. Chính sự lãng
quên lịch sử và không dám nhắc
đến lịch sử mà dẫn đến sự lãnh
cảm thờ ơ với vận mệnh của tổ quốc, của đạo pháp.
2- Uống nước nhớ nguồn là đạo lý của dân tộc, và cũng là giáo lý nhớ đến bốn ân nặng của người Phật tử ( trong đó có cả Tăng Ny). Nhưng
do nhiều yếu tố khách quan, chủ quan trong đó có lý do sợ hãi (
sợ gây mất đoàn kết) chúng ta đã
không muốn nhắc, không dám nhắc bài học lịch sử pháp
nạn năm 1963. Chính vì vậy mà hình ảnh Đại Bi, Đại Trí, Đại Dũng của Bồ tát Thích Quảng
Đức đã bị lu mờ không sáng
bằng Hòa Thượng Tịnh Không ( người Trung Quốc). Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa, Đức Nhiếp Chính Vương
Gyalwa Dokhampa ( người Ấn Độ).
Đây đó ở ba miền Việt Nam chúng ta thấy hình ảnh của HT. Tịnh
Không, Đức Nhiếp Chính Vương Gyalwa Dokhampa , Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa treo phụng thờ kính cẩn, riêng Bồ tát Thích Quảng
Đức rất ít chùa thờ phụng noi
gương tưởng nhớ.
3- Tại sao chúng ta không mỗi năm, (mà phải 50 năm) cùng
trong ngày Phật đản, tất cả các chùa trong
nước cùng làm lễ kỷ niệm sự hy sinh cao quý của Bồ
tát cho đạo pháp và dân
tộc. Noi gương Bồ tátcùng nhau kiến tạo chùa chiền nơi vùng sâu vùng xa, biên giới tổ quốc, hải
đảo để ánh sáng Phật pháptỏa
rạng khắp nơi. Học hạnh Đại từ bi của Bồ tát chữa
bệnh cho dân chúng nghèo. Học hạnh đại hùngđại lực của Bồ
tát biết hy sinh thân mình
cho đại nghĩa dân tộc, cho chúng sinh. Và hơn hết biến lửa hận thù thành lửa từ
bi:
Thương chúng sinh trầm luân bể khổ
Người rẽ phăng đêm tối đất dày
Bước ra ngồi nhập
định hướng về Tây
Gọi hết lửa vào xương da bỏ ngỏ
Phật Pháp chẳng rời tay
Sáu ngã luân hồi đâu đó
Mang mang cùng nín thở
Tiếng nấc lên từng nhịp bánh xe quay
Không khí vặn mình theo, khóc òa lên nổi gió
Người siêu thăng… giông bảo lắng từ đây
Bóng người vượt chín tầng mây
Nhân gian mát rượi bóng cây Bồ đề.
(Trích thơ Lửa Từ Bi -
Thi sĩ Vũ Hoàng Chương)
-----------------
(*) Phạm
Trọng Yêm, tiếng Trung: 范仲淹, (989 - 1052), tự Hy
Văn, thụy Văn Chánh, là một nhà chính trị, nhà văn, nhà quân
sự, nhà giáo dục thời Bắc
Tống. Ông là người huyện Ngô, Tô Châu (nay
thuộc Tô Châu, Giang Tô. Về văn chương, tác phẩm đáng chú ý nhất của ông có lẽ là Nhạc Dương lâu kí (ghi
chép ở lầu Nhạc Dương), nó nổi tiếng vì đạo đức chính trị mà ông thể hiện ở phần cuối trong câu "先天下之忧而忧,后天下之乐而乐 - tiên
thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu
thiên hạ chi lạc nhi lạc" (lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ).
Chùa Bửu Minh Gia lai
Ngày 30 tháng
05 năm 2013
( Kỷ niệm 50 năm ngày Bồ tát Thích Quảng
Đức tự thiêu)