Tọa thiền, hành thiền, ngọa thiền cũng không đi tới đâu. Tên bạn Úc
cùng phòng ngắm nghía, quan sát một chập rồi hỏi: ‘Have you got a
problem with that’?. ‘What’s that!’. Nó chỉ vào phần giữa hai mông. Tôi
nói: ‘No’. Xong rồi tôi chỉ vào đầu ‘This!’. Tên bạn chỉ nói ‘Oh’, xong
bỏ lên thư viện. Còn lại một mình, tôi nghĩ là bề gì mình cũng đã thề
giữ tam quy ngũ giới. Không lẽ hạ sát giới. Ngày thi gần kề. Cứ sân hận
thế này thế nào cũng thi rớt. Phạm thì phạm cũng chả sao. Tôi thấy bằng
mọi giá ‘nó’ phải chết. Tôi phải bóp ‘nó’ nát trong tay tôi. Nhưng trước
hết phải nghĩ ra mưu kế thần diệu nào để diệt đối thủ. Bạn bè ai cũng
khen tôi là nặng chưa tới 45 ký mà mưu mẹo đã nặng hết 40. Nghĩ tới lúc
không còn phiền toái vì nó nữa, tôi muốn hát thật to để biểu lộ tâm
trạng giải thoát của mình, nhưng vì không nhớ trọn một bài hát nào, tôi ư
ử một hồi rồi tắc tị. Tôi bỗng nhớ đến một tựa sách của Hemingway, tôi
đắc ý nói thật to với ‘nó’: For ‘You’ the Bell Tolls!
‘Nó’ mà nãy giờ tôi trút tất cả sự nóng
giận lên đầu là một con... dế! Không biết bằng ngả nào nó lẻn vào phòng
tôi. Hễ tới ban đêm khi tôi sắp sửa mở sách ra học thì nó gáy. Lúc đầu
nghe nó gáy cũng hay và tôi còn làm ra vẻ ngạc nhiên ‘ở Úc mà cũng có...
dế?’. Tôi cứ để mặc nó gáy nữa là khác. Nó làm cho tôi nhớ lại cái thưở
mà tôi còn là một ‘yên hùng’ về nuôi và đá dế. Tôi nói gạt me tôi, trốn
học ra đồng bắt dế. Chủ đất là cậu tôi, có lần bắt gặp, bắt tôi trói
vào cây cau sau nhà, bỏ đói một ngày trời. Lần đầu tiên trong thời thơ
ấu, tôi có dịp nghiền ngẫm triết lý về dế. Tôi không thấy đau khổ vì cái
chuyện bị bắt buộc phải tuyệt thực cả một ngày trời, mà chỉ hơi xấu hổ
vì cô bé học dưới tôi một lớp ở trường Nguyễn Du, cứ ưởng qua ẹo lại,
nhìn tôi cười tủm tỉm. Mẹ tôi đêm nào cũng tụng kinh A Di Đà, thấy tôi
ngắt đầu mấy con dế thua trận, cắm vào một cây tăm, ngoáy ngoáy cho dế
gáy, me giảng cho tôi một trận về luân hồi, nhân quả. Tôi không hiểu mà
cũng không muốn chú tâm nghe. đầu óc cứ lãng vãng vì cái chuyện Hoa Sơn
luận.. dế vào ngày mai.
Tôi xin trở lại câu chuyện con dế trong
phòng tôi, kẻo quý vị lại nói tôi lạc đề quá xa, hay tưởng tôi bắt chước
Lổ Tấn định viết một quyển Ả Dế Chính Truyện. Như tôi nói lúc đầu tôi
khoái nghe con dế gáy. Nhưng sau đó tôi nhìn mấy trang sách mà không
hiểu chữ nào, cứ bị ám ảnh vì tiếng gáy. Không những không học được, mà
tôi lại đâm ra mất ngủ (May là tôi vẫn còn ăn được. Ở Boarding mà bày
đặt ăn không được có mà chết đói). Con dế nó muốn gáy lúc nào thì nó
gáy, nó chẳng tôn trọng nhân quyền của tôi một chút nào, trong khi tôi
chưa hề vi phạm dế quyền của nó! Nó làm như là nó trả trọn tiền thuê
phòng còn tôi chỉ là một kẻ ăn nhờ ở đậu! Nó làm như nó là cái rốn vũ
trụ, chỉ một mình nó là hiện diện, còn người khác đều là... hư vô cả. Nó
tưởng nó là dế thì nó muốn gáy thì gáy. Nghe một hai lần thì cũng hay
hay, nhưng nghe một chập tiếng gáy của nó trở nên bủn xỉn, lố bịch như
tiếng gáy của một đứa tiểu nhân đắc chí.
Thôi thì bề gì tôi cũng phạm sát giới.
Nghĩ tới đây tôi hơi run một chút, vì nhớ tới lời hứa trước mặt bổn sư
TA vào ngày nguyên đán tại chùa Linh Sơn. Tôi nguyện là giữ giới luật
nghiêm minh, tại sao bây giờ tôi lại muốn tàn hại một chúng sinh? Tôi
phải tìm trong kinh điển và trong lịch sử để biện chính cho hành động
của tôi. Tôi nhớ tới chuyện Bồ Tát trên thuyền phải giết một ác nhân
muốn làm đắm thuyền để cứu năm trăm hành khách khác. Sát nhất miêu cứu vạn thử! Sát
nhất dế, cứu cái sự nghiệp của tôi. Thi rớt tức là mất học bỗng. Mất
học bỗng tức là không thể nào tốt nghiệp ra trường. Không tốt nghiệp ra
trường tức là... Tôi không cần biện chính thêm nữa. Thế là đủ. Nó phải
chết. Tôi bỏ một đêm rình nó. Biết nó nằm trong một góc tủ, tôi ngồi
rình, sẵn sàng ra tay chộp nó khi nó lên tiếng gáy. Như biết có nguy
hiểm rình rập, nó im thin thít. Khi tôi sắp sửa lên giường chợp mắt một
tí thì nó lại cất tiếng gáy. Rõ ràng là nó thách thức tôi. Chẳng lẽ tôi
khùng lên vì một con dế? Tôi quên hết mấy cái nguyên tắc thở ra hít vào.
Thế là tôi bị con dế chơi một vố thật đau! Thù hận lên ngút ngàn trong
lòng tôi. Tôi với nó không thể nào sống chung hòa bình hay hòa hợp hòa
giải gì cả. Tôi phải thi hành chánh sách ethnic cleansing cho dù phải ra tòa án chiến tranh Liên Hiệp Quốc (nhưng nó đâu phải khác ethnic với tôi, nó với tôi khác nhau hoàn toàn về species!)
Tôi mắng mỏ nó đủ điều bằng tiếng Anh, nhưng đó đâu có hiểu ngoại ngữ
nên vẫn tiếp tục gáy. Nhưng tôi có tới 40 kí lô mưu mẹo thì tôi đâu có
chịu thua nó dễ dàng như thế. Người Cộng Sản có tới 3 dòng thác cách
mạng. Sử dụng dòng thác mưu mẹo tư tưởng cần phải phối hợp với dòng thác
khoa học kỹ thuật. Tôi ra siêu thị ngắm nghía cái quầy chứa các loại
thuốc xịt côn trùng. Dân Úc sợ nhất là dán nên lọ nào cũng có hình dán,
ruồi, muỗi, nhện nhưng không có lọ nào có hình con dế. Tôi đành phải mua
một lọ xịt dán xài đở. Lần này nó làm tôi hao tài. Tôi xịt hơn nửa
chai, quá ‘đô’ cho chắc ăn. Chẳng có xó xỉnh nào mà tôi không xịt; gầm
giường, gầm tủ, gầm bàn. Nó có ba râu sáu cẳng lần này nó cũng không
thoát dược. Quả nhiên nó im tiếng được hai ba đêm. Nó ngủm rồi chăng? A Di Đà Phật.
Để thi xong tôi tìm xác nó, chôn hay thiêu và cầu siêu cho nó được vãng
sanh. Lần sau đừng thèm làm dế. Làm cây thông hay cây tùng gì đó, khỏe
hơn. Tha hồ đứng giữa trời mà reo. Lại còn được mấy ông bà greens bảo
vệ, không ai dám đốn. Nhưng nó chỉ im hơi có 24 hay 48 tiếng gì đó, nó
lại cất tiếng gáy. Lần này giọng nó lanh lảnh, làm như thuốc trừ dán là
thuốc bổ phổi của nó không bằng. Tôi vừa thất vọng, vừa tức tối. Tôi
lắng nghe nó gáy một chập, tiếng gáy thì cao nhưng thỉnh thoảng có tiếng
khịt khịt như người bị suyễn. Nó bị nội thương rồi chăng? Nó chỉ gáy để
khiêu khích tôi mà thôi. Tôi lấy nửa bình còn lại, chơi xả láng. Phen
này thì tôi yên chí và có thể tập trung tư tưởng cho kỳ thi sắp tới.
Nhưng lần này thì tôi tuyệt vọng. Vài ngày sau nó lại gáy. Tôi đành đầu
hàng. Tuy nhiên bắt chước nhân vật A Q tôi áp dụng phương pháp thắng lợi
tiêu cực. Tôi xem nó như không có, là hư vô. Sắc tức thị không. Nhưng tôi biết tôi tự dối mình. Tôi không thể nào quên nó được. Nó có mặt đó thách thức tôi. Không tức thị sắc.
Nếu quý vị độc giả cho phép tôi được dùng từ ngữ của mấy anh kép cải
lương, mấy anh nhà văn chống đối... bằng cái lỗ miệng, lúc nào cũng dùng
mấy cái danh từ kêu như xe chữa lửa, nó là niềm đau nhức nhối của tôi. Niềm đau nhức nhối
của tôi vẫn gân cổ gáy, xòe cánh gáy. Tôi cứ tưởng tượng lúc nó phùng
cái cánh, vểnh cái râu mà gáy, chắc nó trông khả ố lắm! Tôi dùng thêm vũ
khí của kẻ yếu: con gà nó chết vì tiếng gáy. Con dế cũng có ngày chết
vì tiếng gáy cho mà coi. Tôi cũng dùng phương pháp cả vú lấp miệng em.
Hễ nó gáy thì tôi hát. Tôi hát không đầu không đuôi, hát kiểu liên khúc,
chỗ này một ít, chỗ nọ một ít. Thằng bạn chung phòng cho là tôi hết
thuốc chữa, dạo này ít về phòng, ăn xong nó vọt lên thư viện. Cho đến
một hôm tôi chợt nghe giọng hát vượt không gian vượt thời gian của tôi,
tôi thấy mình quá lố bịch. Tôi đành chịu thua con dế. Từ trước giờ tôi
ít chịu thua ai, thế mà bây giờ tôi lại chịu thua một con dế! Tôi đem niềm đau nhức nhối của tôi kể lại cho một bạn. Nghe xong nó mắng tôi có vần có điệu, như tát nước vào mặt.
‘Sao mày ngu thế! Cơm cha, áo mẹ, chữ
thầy mầy để ở đâu. Mày có miệng thì mầy muốn ăn muốn nói. Có ai phàn nàn
mầy nói bằng miệng đâu, trừ phi mầy nói dai, nói dài, nói dở hay nói
dốc. Dế nó có cánh thì nó gáy. Đó là chuyện tự nhiên nhi nhiên! Cỏ vẫn xanh, liễu vẫn thắm. Chỉ trừ có dế mọi, dế nhủi mới không gáy.’
Giọng thằng bạn đổi từ giận dữ sang mỉa mai, chế nhạo:
‘Có khi nào mày nghe chính mày gáy
không? Bao giờ mày cũng nói tôi là, tôi, tôi tôi... Lúc nào mở miệng mày
cũng chê đàn anh là vô dụng, cờ tới tay không biết phất, hèn hạ. Mày
chê đàn em là thiếu kinh nghiệm, là ngựa non háu đá. Lúc nào mày cũng
khoác lác nói chuyện đội đá vá trời. Mày dùng những danh từ thật kêu,
lúc nào cũng hiu hiu tự đắc với cái thái độ xem trời bằng hạt tiêu. Thiên ngoại hữu thiên. Có ai ghi những lời mầy nói để mầy nghe lại, có lẽ mầy cũng đâm ra ghét chính mầy’.
Tôi ngậm miệng nghe nó chửi, không trả lời được một câu. Nó nói đúng tim gan phèo ruột của tôi, trả lời làm sao bây giờ?
Nói không sợ sai văn phạm, tôi gáy ngày,
ngáy đêm. Gáy khi ăn, ngáy khi ngủ. Gáy từ lúc nhỏ tí teo cho đến nửa
đời người vẫn chưa hết gáy. Càng gáy càng hăng. Thế tại sao tôi lại tức
giận vì một con dế gáy?
Lời chửi của thằng bạn làm tôi tỉnh người. Hoát nhiên đại ngộ.
Nhớ lại tiếng gáy của mình tôi chỉ muốn độn thổ. Lúc mới lớn, khi nói
chuyện với mấy cô gái thì lỗ tai lùng bùng, tôi đã gáy vang trời, vang
đất. Chỉ trừ khi đứng trước cô Lựu, cô em bé bỏng có cái răng khểnh ở
Kim Long, là tôi líu lưỡi. Trưa thứ Bảy nào tôi cũng đạp xe đạp từ An
Cựu xuống Kim Long, mà không thấy đường xa chi mấy. Chỉ cần nhìn thấy
Lựu ỏng ẹo từ xa, là tôi thấy khỏe như vừa mới uống một viên Cửu Long
Hoàn. Rồi qua cô em gái tôi cũng làm quen được với Lựu. Tôi hay rủ Lựu
ra vuờn bắp cạnh bờ sông ngồi nói vớ vẩn. Khi nào thèm bắp tôi lửng lơ
nói: ‘Bắp của Cậu Tí tốt ghê hè!’ Lựu tuy không thông minh lắm, nhưng
cũng không đến nổi chậm hiểu. Có lén bẻ mấy trái bắp của ông cậu đem
nướng và cả hai cùng ăn. Có lần Lựu hỏi:’Nghe nói anh học giỏi nhất
trường?’ Tôi biết tôi con nhà nghèo, nhan sắc cũng thường thường, người
đẹp như Lựu không có lý do gì lại muốn thân với tôi, trừ cái chuyện tôi
nổi tiếng học giỏi. Tôi giả đò ngạc nhiên: ‘Ai nói cho em biết rứa?’ Tôi
cố tình kéo dài chữ em cho nó có vẻ thân thiết. Xong tôi nói: ’Chỉ có
mới vài thành công lực thôi. Anh mà rán hết sức thì anh sẽ đè đầu đè cổ
mấy đứa nó cả đời’. Xong tôi cười hô hố hay hăng hắc, tôi không nhớ rõ.
Có điều là nếu có gì ghi lại giọng cười đó, chính tôi cũng thấy tôi khả ố
nữa là người khác. Nhưng tôi bất cần, vì lúc đó Lựu cũng thích chí cười
theo. Có thì có tự mảy may. Tôi có cái nụ cười của Lựu ngày đó
là tôi có tất cả tam thiên đại thiên thế giới. Ai nói gì mặc kệ. Lúc đó
tôi không có để ý gì ngoài cái hình ảnh Lựu cười, lòi mấy cái răng
khểnh. Hình ảnh rực rỡ là hình ảnh Lựu cười bên cạnh giòng sông Hương
lấp lánh nước đàng sau. Không cần nói dài dòng, quý vị cũng biết những
mối tình (mối tình? Tôi đi chơi với Lựu thì có, ngây ngất nhìn Lựu thì
có, nhưng chưa có lần nào dám cầm tay nàng) không đi đến đâu đó chẳng đi
đến đâu cả. Một người đẹp như Lựu lấy một ông học giả non choẹt như
tôi... chắc là không đặng. Thôi thì tình trước phụ duyên sau, nàng đi
lấy một ông trung úy phi công, lúc nào mặc quần áo một mảnh, hào hoa
phong nhã như Toàn Phong hay Nguyễn Cao Kỳ. Có lần gặp Lựu ngoài phố,
nàng khẻ đưa cái răng khểnh ra cười chào tôi. Tôi cười cầu tài chào lại,
vì thấy chồng Lựu đeo lủng lẳng cái giò heo, trông phát ớn. Thời chiến
tranh, lính, nhất là mấy anh không quân, về thành phố muốn bắn ai thì
bắn! Chả chơi dại!
Từ cái vụ thất tình đó, tôi càng đâm ra
gáy dữ tợn hơn. Thật tình mà nói, tôi học khá, viết lách cũng loẹt
choẹt, có lần được đăng thơ trên tờ Văn Nghệ Học Sinh của Lê Bá Thảng.
Nhưng vì có tật gáy quá, ai cũng ghét. Càng bị ghét thì tôi càng kiêu
ngạo. Càng kiêu ngạo thì càng bị chúng ghét. Đúng là cái vòng luân hồi
lẩn quẩn! Khi lên Đại Học, tôi tự cho mình đã lớn. Lúc nói chuyện lúc
nào cũng giả đò đăm chiêu, nhíu mày, lúc nào cũng lo âu về những vấn đề
trọng đại của đất nước: chiến tranh, cách mạng, hòa bình. Mở miệng ra là
pha mấy câu tiếng Pháp ‘nè toa, toa có thấy lủy... còn moa thì’. Lúc
nào cũng dẫn chứng các triết gia, nhà văn... thời thượng. Không Sartre
thì cũng Camus. Không Camus thì cũng Nietzche. Lúc đó chúng tôi sống ở
một thế giới mà... mặt trời không bao giờ có thực(!), kịch cởm, giả trá
(chúng tôi không chịu dùng chữ giả trá, chỉ muốn dùng chữ... ngụy tín
cho nó có vẻ triết lý hơn). Và tôi cũng như các bạn hữu thế hệ cùng
thời... mắc bịnh ngụy tín thực. Gáy quá, tôi cũng nghĩ là mình xuất
chúng thực nên có khi bị lừa phỉnh một cách đau đớn. Khi ra trường tôi
đi dạy học ở một tỉnh nhỏ. Có một lần đi chấm thi, một cô đồng nghiệp
lén nhìn tôi, rồi quay sang nói nhỏ với một cô đồng nghiệp khác. Tuy là
thì thầm nhưng cô cố ý nói đủ lớn để lọt lỗ tai tôi.’Ngó anh Như một
chập thấy ảnh hao hao giống tài tử Perkins’. Cái tài tình thiên cổ lụy
của cô đồng nghiệp là ở cách dùng chữ. Hao hao thôi. Không ai
kết tội cổ nói láo được. Dùng chữ kiểu này còn hơn mấy nhà văn trường
phái phản văn chương, phản triết lý! Biết là cái bẩy, nhưng tôi vẫn nhẩy
vào một cách sung sướng. Buổi chiều tôi ra các nhà sách lục lạo xem mặt
Athony Perkins (may quá không phải cái lão Anthony Quinn xấu trai trong
Zorba The Greek) đẹp trai tới mức nào. Tôi thấy đời thực đẹp, ra bờ
sông Hàn uống bia một mình, thấy mình cao vời vợi và... đẹp trai như
Anthony Perkins! Nhưng ngày hôm sau, cô đồng nghiệp khen tôi đẹp trai
‘thỏ thẻ’ xin thêm điểm cho một đứa em họ (em họ này đáng nghi. Súng cà
nông 125 ly bắn cũng chưa tới). Tôi đành ngậm bồ hòn làm ngọt, phết thêm
cho thằng em họ... cà nông bắn của cô thêm mấy điểm. Nhưng nói cho thật
tình, lúc đó cô xin cả đời tôi, tôi cũng cho nữa là mấy điểm thi tú
tài. Khi cô cười và cám ơn, tôi mới nhìn kỹ: cô cũng có hai cái răng
khểnh! Trời ơi, sao đời tôi cứ phải khổ lụy về mấy cái răng khểnh như
thế! Nhưng cô này khá hơn Lựu. Ít ra cô cũng gởi tôi một thiệp báo tin
khi đi lấy chồng.
Xin lỗi quý vị độc giả, tôi đã lạc đề
quá xa. Tôi xin trở lại cái chuyện con đế trong phòng tôi. Hồi tưởng lại
quá khứ, tự nhiên tôi đâm ra thương con đế làm sao. Tại sao tôi lại có
thể tìm mưu giết nó? Dế là nạn nhân của chính nó, cũng như tôi là nạn
nhân tiếng gáy của tôi. Tôi thấy mình ngộ đạo nhờ một con dế. Mấy ông
thiền sư có thể ngộ đạo nhờ ngó cây tùng cây bách, tôi cũng ngộ đạo nhờ
nghe được tiếng dế không phải sao? Rồi một biến cố xảy ra. Hơn một tuần
con dế không còn gáy nữa. Hát nữa đi dế. Gáy nữa đi dế. Hát điệu nhạc
buồn, vui gì cũng được. Hát đi, hát đi. Lúc trước tôi mất ngủ vì con dế
gáy thì bây giờ tôi cũng mất ngủ vì nó không chịu gáy. Khi tuyệt vọng
người ta hay quay về thế giới siêu nhiên. Tôi van vái Trời Phật làm sao
cho con dế gáy. Nhưng nó vẫn bặt tăm. Mịt mùng tăm dạng. Đúng là trời
cao có mắt. Không thì cả thế gian này cũng không. Nói theo điệu triết lý cùn, tất cả chỉ còn là im lặng của hố thẳm!
Vài ngày sau, khi dọn phòng, tôi thấy
xác con dế nằm chết khô trong góc tủ. Cánh của nó vàng sậm, dòn khô. Tôi
để con dế trong lòng bàn tay tôi, nâng niu cái xác khô của nó. Mắt nó
vẫn trong và trong một sát na, tôi bỗng thấy chúng long lanh
như vừa muốn khóc. Tôi không sợ xấu hổ khi thú nhận với quý vị, lòng tôi
tan nát. Một chúng sinh tan đi trong vũ trụ vô cùng, trong thời gian vô
thủy vô chung, đâu có nghĩa lý gì. Nhưng nó với tôi bây giờ đã tương
tức tương hiện. Nó có chọc ghẹo gì tôi đâu! Nó là dế thì nó gáy. Những
chuyện như chọc tức, chống đối, thách đố đều do chính tâm cảnh của tôi
tưởng tượng ra cả. Tôi tạo ra chính cái ngục tù để làm khổ tôi. Con dế đáng thương của tôi mới mấy ngày trước còn hăng hái gáy, bây giờ đã chết khô trong tay tôi. Khi bất diệt đi ngang dòng sinh diệt.
Đọc lại những gì mà tôi viết ở trên tôi
lại đâm ra bâng khuâng. Ban đầu tôi định viết một chuyện vui, vì tôi
nghĩ tài ‘u mặc’ (mấy anh ba phiên âm từ chữ Humour) chưa chắc gì đã
thua Lâm Ngữ Đường (Xin hứa với quý vị đây là lần chót mà tôi gáy!) Sau
đó tôi lại nhớ đến quãng thời thơ ấu làm tôi buồn bã không cùng. Như cô
Lựu răng khểnh của tôi. Hình ảnh đậm đà của ba mươi năm tình cũ là hình
ảnh Lựu cười, đôi mắt long lanh giữa dòng sông lấp lánh nước đàng sau.
Cái răng khểnh của Lựu cắn ngập nửa trái bắp non. Ôi những mùa hè năm
cũ, khi tôi còn là một con dế khờ dại, ngồi cạnh bờ sông, yêu vô cùng
đời sống. Dòng nước buồn hiu răng khểnh ơi!. Như cô đồng nghiệp
khen tôi đẹp trai như Anthony Perkins. Tuy cô có hơi xạo một chút,
nhưng cô là nguồn cảm hứng rào rạt của những vần thơ lâm ly bi tráng của
tôi. Em hai mươi tóc xõa dài. Sóng Nha Trang vọng tiếng đầy trên môi.
Và con dế của tôi, con dế đã cho tôi một bài học quý báu. Tôi lén vào
chôn nó dưới một cây Jacaranda trong Campus. Tôi chỉ muốn đưa tiễn cái
hình ảnh của con dế ngây ngô ngày nào, nằm giữa những hàng hoa bắp lay,
cạnh dòng sông lấp lánh nước.
Lời bạt: Bùi Giáng khi viết quyển
Mưa Nguồn, đã gửi tặng mấy con cào cào Phi Châu. Tôi xin gửi bài tạp văn
này cho mấy con dế Úc Đại Lợi.