Những ngày được Thầy tổ cho lên
Sài Gòn học Phật pháp, con biết có con đường mang tên Thích Quảng Đức ở
quận Phú Nhuận, lòng thầm vui mừng và tự hào khi đây đó có những cuộc
hội thảo tưởng niệm, hay ngẩng cao đầu kính cẩn nhìn tượng đài của Bồ
tát.
Con sinh ra sau ngày ngọn lửa thiêng của Tỳ kheo
Thích Quảng Đức bừng
chiếu (11/6/1963). Nửa thế kỷ trôi qua, Người đã thắp lên ngọn lửa từ
bi thức tỉnh lòng người, là ngọn đuốc sáng dần trong bao tăng ni phật
tử. Càng lớn lên và nhận biết từng sự việc cuộc đời thì ngọn lửa thiêng
ngày ấy của Phật giáo Việt Nam khiến cho con vô cùng kính phục trước một
sự hy sinh vĩ đại “vô tiền khoáng hậu” trong lịch sử nhân loại.
 |
Ảnh chụp hình tượng Bồ tát Thích Quảng Đức được khắc trước cửa chính điện chùa Thiên Phước |
Con xin nhắc sơ qua thân thế và sự hy sinh của Ngài:
Tỳ kheo Thích Quảng Đức thế danh Lâm
Văn Tức (1897 – 11/6/1963), Người đã tẩm xăng tự thiêu tại một ngã tư ở
Sài Gòn vào ngày 11/6/1963 nhằm phản đối sự đàn áp Phật giáo của chính
quyền Việt Nam Cộng hòa.
Ngôi chùa cuối cùng mà Tỳ kheo cư ngụ là chùa Quan Thế Âm ở quận Phú Nhuận (Gia Định, nay là Tp.HCM).
Sự việc tự thiêu diễn ra tại ngã tư
đại lộ Phan Đình Phùng và phố Lê Văn Duyệt (nay là Ngã tư phố Nguyễn
Đình Chiểu và đường CM Tháng 8). Tỳ kheo Thích Quảng Đức đi ra từ chiếc ô
tô cùng với hai nhà sư khác, một người đặt một tấm đệm xuống đường, còn
người kia mở cabin lấy ra một bình xăng.
Tỳ kheo Thích Quảng Đức bình tĩnh ngồi
thiền trên tấm đệm, hai nhà sư cùng đi bắt đầu trút xăng lên, Tỳ kheo
Thích Quảng Đức lần tràng hạt và bắt đầu niệm: “Nam mô A Di Đà Phật”.
Phóng viên David Halberrotam viết trên tờ New York Time, tạm dịch:
Tôi lại thấy cảnh đó thêm lần nữa,
nhưng một lần là đủ lắm rồi. Ngọn lửa phun ra từ một con người, thân thể
ông cháy héo khô dần và teo nhăn lại. Đầu của ông đen dần và hóa than.
Trong không khí thoảng mùi cháy khét của thịt người, loài người có thể
cháy nhanh một cách đáng ngạc nhiên. Từ phía sau tôi có thể nghe những
tiếng thổn thức của những người Việt giờ đang tụ tập. Tôi đã quá sốc để
khóc, quá bối rối để ghi chép hay đặt câu hỏi, quá ngỡ ngàng để cả suy
nghĩ… Khi cháy, ông ấy không hề cử động một cơ bắp nào, không hề bật ra
một âm thanh nào, sự bình tĩnh của ông thật trái ngược với cảnh những
người đang rền rĩ khóc than xung quanh.
Mặc dù con không trực tiếp chứng kiến
sự đấu tranh bất bạo động vì đạo pháp, vì dân tộc của Phật giáo lúc bấy
giờ, nhưng vầng hào quang của Bồ tát giúp con hình dung ra được một bức
tranh tối sáng của hoàn cảnh lúc đó, và ngọn lửa đó vẫn sáng mãi trong
tâm trí con, và mỗi khi nghĩ về Bồ tát với trái tim bất diệt trong lòng
con luôn trào dâng niềm kính tiếc vô biên, có nhiều khi rươm rướm lệ lúc
nào không biết.
Những năm tháng còn là học sinh, dù
chưa hiểu nhiều về Phật giáo, nhưng con rất tự hào về đạo Phật, thường
lấy tấm gương của Bồ tát, trái tim bất diệt của Bồ tát Quảng Đức làm đề
tài để chứng minh với đám bạn choai choai cùng thời.
Nhân duyên lớn đến với con là sau khi
xuống tóc xuất gia, khi được ở chùa con luôn tìm tòi những tư liệu nói
về cuộc chiến ngày ấy, tìm hiểu cuộc đời, sự hy sinh vĩ đại của Bồ tát.
Những ngày được Thầy tổ cho lên Sài
Gòn học Phật pháp, biết có con đường mang tên Thích Quảng Đức ở quận Phú
Nhuận, con thầm vui mừng và tự hào khi đây đó có những cuộc hội thảo
tưởng niệm, hay ngẩng cao đầu kính cẩn nhìn tượng đài của Bồ tát.
Niềm kính phục tấm gương cao cả, và
trái tim bất diệt mầu nhiệm của Bồ tát Quảng Đức, đã cho con sự mạnh dạn
thay thế hình tượng vị Hộ pháp quen thuộc bằng hình tượng của Bồ Tát
Thích Quảng Đức phía phải trước ngôi chánh điện chùa Thiên Phước - nơi
con tu học.
Không biết việc thay đổi đó có ảnh hưởng về kiến trúc xưa cũ hay không?
Hàng ngày ra vào chánh điện, được nhìn
ngắm hình tượng Bồ tát tự nhiên trong sâu thẳm tâm hồn trào dâng niềm
tự hào, và an lạc vô biên.