Chùa
Tây Thiên, tuy mới được kiến tạo từ năm Nhâm Dần, 1902 nhưng qua quá
trình hình thành và phát triển suốt nửa đầu thế kỷ XX thì ngôi chùa mới
này cũng đã đóng giữ một vai trò trọng yếu trong công cuộc chấn hưng
Phật giáo tại miền Trung; đã góp phần đánh thức nhiều thế hệ Tăng, tín
đồ Phật giáo Việt Nam, sau hơn một thế kỷ ngủ vùi trong suy vi, đình
đốn, làm cho tất cả đều đứng dậy và vươn lên mạnh mẽ.
I. DẪN NHẬP
Trong
số hàng trăm ngôi danh lam cổ kính ở đất Thần kinh Huế, đã được chư Tổ
khai sơn, kiến tạo, trùng hưng từ nhiều thế kỷ về trước, như các chùa
Quốc Ân, Hàm Long Báo Quốc, Ấn Tôn Từ Đàm, Thiên Thai Thuyền Tôn, An
Dưỡng am Từ Hiếu, các quốc tự Linh Mụ, Diệu Đế, Thánh Duyên, v.v… Những
công trình kiến trúc chùa tháp đồ sộ này, cùng nếp sống trang nghiêm,
thanh tịnh của nhiều thế hệ cao tăng, thạc đức kế tục truyền thừa, không
chỉ ghi những dấu son chói lọi trong dòng lịch sử Phật giáo, mà còn ảnh
hưởng sâu sắc đến đời sống tâm linh cao đẹp của dân tộc suốt nhiều thế
kỷ.
Ngoài
ra, ở miền đất cố đô này còn có nhiều ngôi chùa mới được chư Tổ khai
sơn, kiến tạo trên dưới một trăm năm trở lại đây, nhưng lối kiến trúc
hài hòa và đạo phong thanh thoát của chốn Thiền môn cũng không kém phần
rực rỡ.
Có
thể nói, những ngôi chùa mới này đã tạo thêm cho quần thể chùa tháp ở
miền đất cố đô thơ mộng một dáng vẻ uy nghiêm, trầm hùng, đan xen trong
một không gian thanh thoát, tịch mịch.
Trong số đó, có chùa Tây Thiên…
Chùa
Tây Thiên, tuy mới được kiến tạo từ năm Nhâm Dần, 1902 nhưng qua quá
trình hình thành và phát triển suốt nửa đầu thế kỷ XX thì ngôi chùa mới
này cũng đã đóng giữ một vai trò trọng yếu trong công cuộc chấn hưng
Phật giáo tại miền Trung; đã góp phần đánh thức nhiều thế hệ Tăng, tín
đồ Phật giáo Việt Nam, sau hơn một thế kỷ ngủ vùi trong suy vi, đình
đốn, làm cho tất cả đều đứng dậy và vươn lên mạnh mẽ.
Từ
một Đạo tràng được Tổ khai sơn lập nên rất sớm để giáo dưỡng và chấn
chỉnh Tăng đồ, đến sự ra đời đúng lúc của một Phật học viện qui mô rộng
lớn, nhằm mục đích đào tạo Tăng tài trên khắp 17 tỉnh miền Trung.
Từ
việc che chở, đùm bọc cho phong trào GĐPT có nơi nương tựa để đào luyện
và kiện toàn tổ chức, đến một Đạo tràng tu học dành cho các giới cư sĩ
mà hơn 40 năm qua vẫn không ngừng sinh hoạt.
Từ
một trường Sơ cấp Phật giáo được tổ chức và khai giảng đầu tiên tại
Huế, nhằm giúp đỡ cho đông đảo con em thất học tại các địa phương lân
cận, đến việc mở một Trạm xá từ thiện,
để khám chữa bệnh, cấp phát thuốc miễn phí cho đồng bào Phật tử nghèo
trong thời buổi chiến tranh loạn lạc… là những thành quả mà ngôi chùa
mới Tây Thiên đã đạt được kể từ sau năm Canh Thân, 1920, khi các Đạo
tràng đầu tiên được chư Tổ lập ra tại Huế.
Cao
quý hơn nữa, chùa Tây Thiên còn là nơi xuất hiện chín bậc Cao tăng kỳ
vĩ, mà công nghiệp lớn lao của quý Ngài, dù phải trải qua nhiều giai
đoạn cam go và đầy biến động nhất của lịch sử dân tộc, nhưng quý Ngài
cũng đã làm cho nền Phật giáo Việt Nam đạt đến đỉnh cao của thời hưng
thịnh.
Phải chăng, những thành tựu lớn lao ấy, là nhờ vào thâm ân của Tổ khai sơn Thanh Ninh Tâm Tịnh, người đã suốt đời tận tụy, chăm nom giáo dưỡng cho các thế hệ Tăng Ni đệ tử, trong Đại nguyện “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sinh”, vô cùng sâu nặng của Ngài.
Để
có thể có cái nhìn tổng quát hơn về vai trò, vị trí lịch sử và sự đóng
góp tích cực của ngôi chùa mới Tây Thiên trong giai đoạn chấn hưng và
cũng là nơi xuất hiện chín bậc Cao tăng kỳ vĩ. Chúng tôi xin trình bày
thêm phần lược sử chùa và tiểu sử của Tổ khai sơn “Sắc tứ TÂY THIÊN DI
ĐÀ TỰ”.
II. LƯỢC SỬ CHÙA TÂY THIÊ
Kể từ năm khai sơn cho đến những lần trùng tu về sau, chùa Tây Thiên đã có nhiều tên gọi khác nhau:
Năm Nhâm Dần, 1902 thời đầu xây dựng có tên là Thiếu Lâm trượng thất.
Năm Giáp Thìn, 1904 đổi thành Thiếu Lâm tự.
Năm Tân Hợi, 1911 lại đổi tên thành Tây Thiên Phật cung.
Năm Quý Dậu, 1933 niên hiệu Bảo Đại thứ 8, vua ban biển ngạch “Sắc tứ Tây Thiên Di Đà tự”.
Ngày nay, mọi người chỉ quen gọi là chùa Tây Thiên, hay trân trọng hơn là Tổ đình Tây Thiên.
***
Chùa
Tây Thiên do Hòa thượng Thanh Ninh Tâm Tịnh kiến tạo từ năm Nhâm Dần,
1902, trên vùng đất thuộc ấp Thuận Hòa, làng Dương Xuân hạ, huyện Hương
Thủy, tỉnh Thừa Thiên. (Nay là thôn Thượng Một, xã Thủy Xuân, thành phố
Huế). Chùa nằm về hướng Tây Nam núi Ngự Bình, cách đàn Nam Giao khoảng
500 mét về phía Nam.
Thời
đầu xây dựng, chùa có tên gọi là Thiếu Lâm trượng thất và chỉ là một
thảo am để Hòa thượng cùng vài ba đệ tử làm nơi ẩn náu tu hành.
Vào
mùa Đông năm Giáp Thìn, 1904, sự sinh hoạt có cơ duyên phát triển nên
chùa được xây dựng thêm một ngôi nhà nằm phía hữu của thảo am, rồi đổi
tên Thiếu Lâm trượng thất thành Thiếu Lâm tự.
Đến
năm Tân Hợi, 1911, Hòa thượng tiếp tục cho xây ngôi chánh điện rộng lớn
(nằm ở vị trí ngày nay) còn nền cũ thì sửa lại làm Tăng xá. Trong dịp
này, Hòa thượng còn chú tạo một ngôi tượng Phật A-di-đà, rồi lại đổi tên
Thiếu Lâm tự thành Tây Thiên Phật cung.
Đây cũng là thời kỳ Phật giáo Việt Nam bắt đầu chuyển mình vươn dậy, sau hơn một thế kỷ lâm vào tình trạng trì trệ, tha hóa.
Ở
miền Nam, chư tôn Thiền đức bắt đầu lập các Đạo tràng để chấn chỉnh
Tông môn và vận động cho công cuộc chấn hưng. Ở miền Trung, chư Tổ cũng
tích cực khởi động phong trào. Mở đầu, Hòa thượng Như Trí Phước Huệ
(1869-1945),
lập nên hai Đạo tràng tại chùa Thập Tháp và chùa Long Khánh ở Bình
Định. Ở Thừa Thiên, Huế, Hòa thượng Thanh Tú Tuệ Pháp (1871-1927),
lập Đạo tràng tại chùa Thiên Hưng, Hòa thượng Thanh Thái Phước Chỉ
(1858-1926) lập Đạo tràng tại chùa Tường Vân và Hòa thượng Thanh Ninh
Tâm Tịnh (1868-1928),
lập Đạo tràng tại chùa Tây Thiên. Tiếp sau đó, Đại sư Viên Thành
(1879-1928) cũng lập Đạo tràng tại chùa Tra Am… Sự sinh hoạt có nề nếp
và đông đảo môn sinh dự học tại các Đạo tràng đầu tiên này, đã cổ xúy và
khởi động mạnh mẽ cho sự phát triển nhanh chóng của phong trào.
(Xin lưu ý: Đến đây, vì có hai sự kiện liên quan đến lịch sử chùa Tây Thiên trong giai đoạn này,
mà các tác giả đã ghi thành sách và phát hành rộng rãi, nên chúng tôi
xin nêu lên để chư vị Tăng Ni, Phật tử tìm hiểu thêm về lịch sử chùa Tây
Thiên.
Sự kiện thứ nhất:
Trong
bản “Tiểu sử Ngài Tâm Tịnh” do môn đồ chùa Tây Thiên biên soạn, đã phát
hành đến chư vị Tăng Ni trong môn phái từ năm Nhâm Ngọ (2002), có đoạn
ghi (nguyên văn): “Năm Giáp Tý, gặp dịp Tứ tuần đại khánh của vua, vua
Khải Định đã ngự đến chùa Tây Thiên, lần đầu tiên trong lịch sử Phật
giáo Huế, một ngôi chùa không phải là quốc tự mà được vua ngự đến thăm,
vua đã ban cho Ngài Tâm Tịnh một đồng tiền vàng và hai trăm đồng bạc
Đông Dương.”
Sự
kiện này, chúng tôi e rằng có sự nhầm lẫn. Chắc soạn giả bản “Tiểu sử
Ngài Tâm Tịnh” đã suy nhầm từ câu chữ Hán khắc trên văn bia ở tháp Tổ
rằng: “Khải Định Giáp Tý hạ, cung ngộ Tứ tuần đại khánh, phụng Hoàng
thượng ngự tiền, ân tứ kim tiền nhất diện tịnh dương ngân bách nhị
nguyên…” Nghĩa là: Mùa hạ năm Giáp Tý, niên hiệu Khải Định, gặp lễ Tứ
tuần đại khánh, trước mặt Hoàng thượng được ân ban một đồng tiền vàng và
hai trăm đồng bạc Đông Dương.
Rõ
ràng, qua đoạn văn bia trên, hoàn toàn không đề cập gì đến việc vua
Khải Định ngự lên thăm chùa Tây Thiên, mà chỉ có việc vua ân thưởng cho
Hòa thượng Tâm Tịnh (một số tiền như đã ghi trên) trong dịp Hòa thượng
diện kiến nhà vua.
Một
lý do dễ hiểu hơn nữa là lúc bấy giờ, Hòa thưọng Tâm Tịnh đang giữ chức
Tăng Cang quốc tự Diệu Đế, nghĩa là Ngài đang hưởng bổng lộc của triều
đình, thì không có lý do gì trong lễ Tứ tuần của vua mà Ngài lại không
vào cung để chúc mừng. Sự kiện ân thưởng này được diễn ra trong Hoàng
cung, chứ không thể là tại chùa Tây Thiên. Giả như trong một dịp nào đó,
vua Khải Định có ngự lên thăm chùa Tây Thiên thì đó là một điều vinh dự
cho chùa. Một sự kiện lịch sử khá quan trọng như thế, tại sao khi soạn
văn bia, Tiến sĩ Mai Tu Nguyễn Cao Tiêu lại không ghi vào mà chỉ ghi có
việc vua ân thưởng tiền?
Sự kiện thứ hai:
Trong
cuốn Lịch sử Phật giáo xứ Huế của TT. Hải Ấn và Hà Xuân Liêm, bản in
năm 2001 tại Tp. Hồ Chí Minh, ở trang 538 ghi (nguyên văn): “Năm Bính
Dần, 1926, vua Khải Định “Sắc tứ” chùa Tây Thiên và cúng pho tượng A Di
Đà.”
Sự
kiện này, chúng tôi cũng e rằng có sự nhầm lẫn. Bởi lẽ, năm Bính Dần,
1926, là năm Bảo Đại nguyên niên. Vua Khải Định chỉ ở ngôi từ năm Bính
Thìn, 1916 đến năm Ất Sửu, 1925 thì băng hà. Làm gì còn sống đến năm
Bính Dần, 1926 để “Sắc tứ” chùa Tây Thiên? Yếu tố thứ hai, giả như vua
Khải Định trong một năm nào đó đã “Sắc tứ” chùa Tây Thiên, thì đến năm
Quý Dậu, 1933, vua Bảo Đại chắc “không dám” ban biển ngạch “Sắc tứ Tây
Thiên Di Đà tự”, hiện treo trong chánh điện.)
Mùa
Xuân năm Mậu Thìn, 1928, Tổ Thanh Ninh Tâm Tịnh viên tịch. Hòa thượng
Trừng Văn Giác Nguyên, trưởng tử của Tổ kế tục trú trì. Lên làm trú trì,
Hòa thượng Giác Nguyên, cũng không ngừng nỗ lực tiếp nối thực hiện sự
nghiệp hoằng hóa đang còn dở dang của Tổ.
Ngày
19 tháng 9 năm Ất Hợi (16.10.1935), Hòa thượng trú trì, cùng chư tôn
Hòa thượng trong Hội đồng chứng minh An Nam Phật học hội, quyết định
thành lập và khai giảng một Phật học viện rất qui mô tại chùa Tây Thiên.
Phật học viện này gồm đủ ba trường Sơ-Trung-Cao đẳng. Sau khi thành
lập, thì các lớp Sơ đẳng, Trung đẳng đang được giảng dạy tại các chùa
Vạn Phước, Trúc Lâm, Tường Vân, Báo Quốc… đều được chuyển lên sáp nhập
vào Phật học viện này.
Một
năm sau ngày khai giảng, Phật học viện tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm Đệ
nhất chu niên. Trong dịp này, Hội quyết định đổi tên trường Cao đẳng
thành “XUÂN KINH ĐẠI PHẬT HỌC TRÀNG” . Cơ sở vẫn đặt tại chùa Tây Thiên.
Phật
học viện Tây Thiên thu nhận học Tăng mở rộng trên khắp 17 tỉnh miền
Trung (từ Thanh Hóa đến Bình Thuận, tức địa phận của xứ Trung Kỳ thời
Pháp thuộc) nên số lượng học Tăng về dự học rất đông. Riêng lớp Đại học
đã có trên 50 vị.
Dưới
sự điều hành và giảng dạy tận tụy của các bậc Giáo thọ uyên thâm Thánh
điển như quý Hòa thượng Như Trí Phước Huệ, ở Tổ đình Thập Tháp, Bình
Định, Hòa thượng Trừng Thành Giác Tiên ở chùa Trúc Lâm, Hòa thượng Trừng
Huệ Giác Viên ở chùa Thệ Đa lâm (tức chùa Hồng Khê ngày nay), Hòa
thượng Trừng Thủy Giác Nhiên, Tăng Cang quốc tự Thánh Duyên, Thừa Thiên…
về phía cư sĩ tân học có Bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám, Bác sĩ Trương
Xướng, Điêu khắc gia kiêm Họa sĩ Mai Trang Nguyễn Khoa Toàn…
Các
lớp Sơ đẳng và Trung đẳng thì có thêm các học Tăng xuất sắc ở lớp Đại
học được phân công xuống giảng dạy, như quý Ngài Trừng Nguyên Đôn Hậu,
Tâm Như Trí Thủ, Tâm Hương Mật Hiển, Tâm Như Mật Nguyện, v.v…
Phật
học viện Tây Thiên là một Phật học viện đầu tiên có hệ thống tổ chức
rất khoa học, có phương pháp giáo dục tập trung hoàn chỉnh, là một trung
tâm đào tạo Tăng tài nổi tiếng nghiêm túc và có chất lượng học tập cao
nhất của Phật giáo tại miền Trung lúc bấy giờ.
Chư
vị học Tăng xuất thân từ Phật học viện danh tiếng này, về sau đều trở
thành những bậc long tượng Tăng-già đạo cao, đức trọng. Công nghiệp của
các Ngài không chỉ làm long thịnh ngôi nhà Phật giáo, mà còn góp sức tô
bồi cho nền văn hóa dân tộc thêm phần phong phú, cao đẹp. Tiêu biểu như
quý Hòa thượng Trừng Nguyên Đôn Hậu (1905-1992), Đệ tam Tăng Thống
GHPGVNTN, Hòa thượng Hoàn Tuyên Thiện Hoa (1919-1973), Viện trưởng Viện
Hóa Đạo GHPGVNTN, Hòa thượng Tâm Như Mật Nguyện (1911-1972), Chánh Đại
diện GHPGVNTN miền Vạn Hạnh, v.v…
Phật
học viện Tây Thiên đã cung ứng kịp thời một phần rất lớn các vị Tăng
tài cho công cuộc chấn hưng, đã duyên khởi cho một Đại Tòng lâm kiểu mẫu
ra đời sau đó trên ngọn đồi Kim Sơn hùng vĩ, ở thôn Lựu Bảo, xã Hương
Hồ, ngoại vi kinh thành Huế. Phật học viện này thực sự đã ghi một dấu
son trong dòng lịch sử xây dựng và phát triển của ngôi chùa mới Tây
Thiên.
Đến
năm Tân Mão, 1951, sau khi tổ chức Gia đình Phật hóa phổ được Hội quyết
định đổi tên thành Gia đình Phật tử, thì khuôn viên chùa Tây Thiên đã
trở thành “Trại trường” của tổ chức Phật giáo này.
Gắn
bó nhiều nhất với anh chị em Huynh trưởng và Đoàn sinh GĐPT ở giai đoạn
này là Hòa thượng Thích Thiện Minh (1922-1978), Ủy viên Thanh niên của
Tổng Hội Phật giáo Việt Nam.
Suốt
cả thập kỷ 50 vừa qua, chùa Tây Thiên đã sát cánh cùng chùa Từ Đàm để
đùm bọc, che chở cho tổ chức GĐPT được trưởng thành và lớn mạnh. Các thế
hệ Huynh trưởng và Đoàn sinh GĐPT lúc bấy giờ, vẫn còn khắc sâu trong
ký ức một thời được sống an lành dưới sự chăm nom, giáo dưỡng tận tình
của chư vị tôn túc dưới mái chùa Tây Thiên.
Năm
Nhâm Thìn, 1952, chứng kiến nỗi cơ cực, thiếu thốn của đông đảo đồng
bào Phật tử trong cơn ly loạn, Hòa thượng trú trì cùng chư Tăng chùa Tây
Thiên,
đã thành lập trường Sơ cấp Phật giáo để giúp đỡ cho con em trong địa
phương có nơi học tập. Rồi lập nên Trạm y tế từ thiện để khám chữa bệnh,
cấp phát thuốc miễn phí cho đồng bào Phật tử nghèo trong suốt một thời
gian dài.
Có
thể nói, đây là hai mô hình “phụng sự chúng sinh” khá mới mẻ nhưng rất
thành công mà ngôi chùa mới Tây Thiên đã xây dựng được. Từ mô hình này,
sau đó đã được các chùa, các tự viện tiếp tục triển khai trên nhiều địa
phương. Điển hình như Trạm xá tại chùa Từ Đàm (sau nâng lên thành bệnh
xá) và Bệnh xá Tây Lộc, do Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên thành lập và
hoạt động cho đến sau ngày 30.4.1975 mới chấm dứt.
Năm
Đinh Mùi, 1967, Hòa thượng trú trì Trừng Văn Giác Nguyên chứng minh và
lập nên “Tịnh nghiệp Đạo tràng Tây Thiên”, để làm nơi tu học cho các
giới cư sĩ tại gia. Từ ấy đến nay, đã trải qua 40 năm mà Tịnh nghiệp Đạo
tràng vẫn không ngừng sinh hoạt. Điều đáng trân trọng hơn nữa là các vị
cư sĩ xuất thân từ Đạo tràng Tây Thiên này là những vị cư sĩ mẫu mực,
đã và đang gánh vác trọng trách tại các Khuôn Giáo hội, các Niệm Phật
đường…
Ngoài
những Phật sự lớn lao mà ngôi chùa mới Tây Thiên đã tích cực đóng góp
vào sự phát triển của Phật giáo trong giai đoạn chấn hưng, chùa còn là
nơi xuất hiện Chín bậc Cao Tăng kỳ vĩ, sự nghiệp hoằng hóa của quý Ngài
không chỉ rực sáng trong dòng lịch sử Phật giáo Việt Nam, mà tài năng,
đức độ và hạnh nguyện cao cả của quý Ngài đã thấm nhuần trong đời sống
biết bao thế hệ Tăng Ni, Phật tử.
Chùa
Tây Thiên từ khi kiến tạo đến nay, trước sau chỉ mới hơn một trăm năm,
nhưng cũng đã có đến năm thế hệ kế tục truyền thừa (theo Kệ truyền thừa
của Thiền phái Thiệt Diệu Liễu Quán, chùa Thiền Tôn, Thừa Thiên), từ chữ
THANH đến chữ QUẢNG, như sau:
1. THANH NINH Tâm Tịnh (1868-1928)
2. TRỪNG VĂN Giác Nguyên (1877-1980)
3. TÂM THỌ Thiện Hỷ (1914-1969)
4. NGUYÊN KHÔNG Từ Phương (1946-2005)
5. QUẢNG ĐẠI Nguyên Minh
Quang
cảnh trang nghiêm, thanh tịnh và đạo phong thanh thoát của các thế hệ
chư tăng thường trú ở ngôi chùa mới Tây Thiên cũng đã được các bậc Cao
tăng, thạc đức không ngớt lời xưng tán.
Sự
nghiệp tiến tu và hoằng hóa rực rỡ của quý Ngài, đã được thể hiện sâu
sắc qua nội dung các câu đối hiện treo ở chùa Tây Thiên, như sau:
Tại cổng tam quan chùa, ở hai trụ chính giữa:
破無明除二執魔外降心
示八相顯六通人天稽首
Âm:
Phá vô minh trừ nhị chấp ma ngoại hàng tâm
Thị bát tướng hiển lục thông nhân thiên khể thủ
(Câu này do Hòa thượng Trừng Nguyên Đôn Hậu cẩn đề)
Trong chánh điện, hai vế ở giữa:
生 生不增滅 滅不減真如萬古常新
前前無始後後無終金性本來如是
Âm:
Sanh sanh bất tăng diệt diệt bất giảm chân như vạn cổ thường tân
Tiền tiền vô thủy hậu hậu vô chung kim tính bản lai như thị
Tại nhà hậu Tổ:
林 泉枯木待人知晤為開花
少室微風拂面問誰能作佛
Âm:
Lâm tuyền khô mộc đãi nhân tri ngộ vị khai hoa
Thiếu thất vi phong phất diện vấn thùy năng tác Phật.
(Câu này do Hòa thượng Tâm Phật Thiện Siêu cẩn đề)
***
Kể
từ sau khi Tổ khai sơn viên tịch cho đến ngày nay, các thế hệ chư Tăng
kế tục vẫn không ngừng nỗ lực trùng tu, kiến tạo nên quang cảnh chùa Tây
Thiên ngày càng phong quang, đẹp đẽ, xứng đáng đứng vào vị trí một ngôi
Tổ đình trong lịch sử truyền thừa của Phật giáo Việt Nam. Và trong
trang sử huy hoàng của ngôi chùa mới này mãi mãi còn ghi một dòng rạng
rỡ: “CHÙA TÂY THIÊN, NƠI XUẤT HIỆN CHÍN BẬC CAO TĂNG KỲ VĨ”.
III. VÀI NÉT TIỂU SỬ VỀ HÒA THƯỢNG THANH NINH TÂM TỊNH (1)
1.Thân thế
Hòa
thượng thế danh là HỒ HỮU VĨNH, sinh giữa giờ Tý, ngày 18 tháng 5 năm
Mậu Thìn, tại làng Trung Kiên, tổng Bích La, phủ Đăng Xương, (2)
huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị (nay là thôn Trung Kiên, xã Triệu
Thượng, huyện Triệu Phong). Hòa thượng là người cùng làng với quý Hòa
thượng: Tánh Thiên Nhất Định (1784-1847), Tổ khai sơn An Dưỡng am -Từ
Hiếu, Thanh Tú Tuệ Pháp (1871-1927) trú trì chùa Thiên Hưng, Thanh Đức
Tâm Khoan (1874-1937), trú trì chùa Hàm Long Báo Quốc, Huế… Hòa thượng
thác sinh trong một gia đình mà song thân đều thành tâm quy ngưỡng Phật
pháp. Cho nên, từ thuở ấu thơ và cả thời niên thiếu, Hòa thượng thường
theo song thân lên chùa dâng hương lễ Phật. Nhờ cơ duyên ấy nên Hòa
thượng sớm thấm nhuần cuộc sống trang nghiêm, thanh tịnh của chốn Thiền
môn. Từ ấy, con đường nhập đạo như đang mở rộng trước tầm mắt của người
thiếu niên.
2. Xuất gia và học đạo
Năm
12 tuổi, Canh Thìn, 1880, Hòa thượng tỏ bày chí nguyện xin được xuất
gia, song thân không chỉ vui lòng chấp thuận mà còn hết lời khuyến
khích. Hòa thượng liền lên đường vô Kinh đô Huế, đến chùa Hàm Long Bảo
Quốc, xin đầu sư với Hòa thượng Hải Thuận Diệu Giác (trong các sử liệu
có nhiều nơi ghi pháp tự của Ngài là Lương Duyên (1806-1896) (3).
Năm
19 tuổi, Đinh Hợi, 1887, Hòa thượng đồng đàn thọ Sa-di giới tại giới
đàn chùa Bảo Quốc, được Bổn sư đặt pháp danh là THANH NINH, pháp tự là
HỮU VĨNH, thể nhập đời thứ 41 dòng Thiền Lâm tế Chánh tông, Trung Hoa,
đời thứ 7, dòng Thiền Thiệt Diệu Liễu Quán, Việt Nam.
Sau
khi thọ Sa-di giới, Hòa thượng càng nỗ lực trau giồi giới hạnh và chăm
chỉ học tập. Suốt bảy năm dưới sự giáo dưỡng tận tình của Bổn sư, Hòa
thượng càng tỏ rõ là một vị Sa-di xuất sắc, học hạnh kiêm toàn, giới
luật tinh nghiêm.
Năm
26 tuổi, Giáp Ngọ, 1894, Hòa thượng được đăng đàn thọ tỳ-kheo Bồ-tát
giới, cũng tại giới đàn chùa Hàm Long Bảo Quốc. Đại giới đàn này, Bổn sư
của Hòa thượng làm Đàn đầu, Hòa thượng Hải Thiệu Cương Kỹ (1810-1899),
trú trì chùa Từ Hiếu, làm Yết-ma, Hòa thượng Hải Toàn Linh Cơ
(1823-1896) trú trì chùa Tường Vân, làm Giáo thọ.
Sau khi thọ Đại giới, Ngài được Bổn sư ban pháp hiệu là TÂM TỊNH và phú kệ đắc pháp:
河清寧密四方安
有永心心道即閑
心似菩提開慧日
包含世界如是觀。
Âm:
Hà Thanh Ninh mật tứ phương an
Hữu Vĩnh tâm tâm đạo tức nhàn
Tâm tự Bồ-đề khai tuệ nhật
Bao hàm thế giới như thị quán.
Nghĩa:
Sông trong yên lặng bốn phương an,
Vĩnh viễn tâm tâm đạo ấy nhàn,
Tâm tựa Bồ-đề soi tuệ nhật,
Một bầu thế giới chứa muôn vàn.
(Nguyễn Lê Châu, dịch)
3. Sự nghiệp hoằng hóa
Năm
27 tuổi, Ất Mùi, 1895, Hòa thượng vâng lệnh Bổn sư lên chùa Từ Hiếu để
hầu hạ và tiếp tục tham học với Hòa thượng Yết-ma Hải Thiệu Cương Kỹ.
Lúc
Hòa thượng lên chùa Từ Hiếu thì chùa đang bắt đầu công cuộc đại trùng
tu, nên Ngài Yết-ma Hải Thiệu liền giao cho Hòa thượng nhiệm vụ trông
coi công việc trùng tu chùa.
Đến
ngày mồng 01 tháng 3 năm Mậu Tuất, 1898, Ngài Yết-ma Hải Thiệu viên
tịch. Hòa thượng được môn đồ cung thỉnh kế tục trú trì. Trong thời gian 4
năm làm trú trì, Hòa thượng không ngừng tiếp tục sửa sang chùa Từ Hiếu
ngày thêm xán lạn, xứng đáng là một Tòng lâm danh tiếng ở đất Thần kinh.
Ngày 15 tháng 2 năm Kỷ Hợi, 1899, Hòa thượng tổ chức “Pháp nghi Liên trì xã” và cung thỉnh chư vị tôn túc trong Sơn môn cùng hàng trăm cư sĩ các giới về tham dự. “Pháp nghi Liên trì xã”
ra đời đã mở đầu cho sự nghiệp hoằng hóa của Hòa thượng, và cũng muốn
mở rộng con đường hoằng hóa - nên đến đầu năm Nhâm Dần, 1902, Hòa thượng
giao nhiệm vụ trú trì lại cho pháp đệ Thanh Thái Tuệ Minh (1861-1939),
rồi cùng vài đệ tử vân du về ấp Thuận Hòa, làng Dương Xuân hạ, huyện
Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên (nay là thôn Thượng Một, xã Thủy Xuân, thành
phố Huế) cắm tích trượng, dựng thảo am đặt tên là Thiếu Lâm trượng thất
để làm nơi ẩn náu tu hành.
Tại
thảo am này, ngoài việc chăm nom giáo dưỡng cho các đệ tử, Hòa thượng
còn chuyên tâm nghiên cứu về Thiền học, Giới luật và tham khảo rộng rãi
về Tịnh độ tông.
Thâm nhập sâu sắc Thiền ý của Tổ Bách Trượng Hoài Hải (720-814) nên hằng ngày Hòa thượng thường nhắc nhủ các đệ tử rằng:
栽竹栽梅消舊日
種瓜種豆度新朝
Âm:
Tài trúc tài mai tiêu cựu nhật
Chủng qua, chủng đậu độ tân triêu.
Nghĩa:
Chăm bón trúc mai qua ngày tháng,
Trồng dưa, trồng đậu độ người sau.
Ngoài ra, ngài có cảm tác một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, rất được chư tôn đức tâm đắc. Nội dung như sau:
少林深隱月三更
靜聽松風弄古爭
一曲吟成無限句
良田萬頃任君耕。
Âm:
Thiếu Lâm thâm ẩn nguyệt tam canh
Tĩnh thính tùng phong lộng cổ tranh
Nhất khúc ngâm thành vô hạn cú
Lương điền vạn khoảnh nhậm quân canh.
Nghĩa:
Thiếu Lâm thâm ẩn nguyệt ba canh
Lắng nghe gió thoảng dưới cổ tùng
Một khúc ngâm thành câu vô tận
Ruộng vườn ngàn khoảnh mặc sức canh.
(Bản này trích trong “Tiểu sử ngài Tâm Tịnh”)
Hòa
thượng là vị Thiền sư uyên thâm tư tưởng Thiền và Tịnh độ tông, ngài
lại muốn phát triển rộng rãi tông chỉ “Thiền Tịnh song tu”, nên vào mùa
Đông năm Giáp Thìn, 1904, Hòa thượng cho xây dựng thêm một Thiền thất
nằm phía hữu của thảo am, rồi đổi tên thành Thiếu Lâm tự.
Năm
Canh Tuất, 1910, Hòa thượng được Sơn môn Tăng già cung thỉnh làm Đệ
nhất Tôn chứng tại giới đàn chùa Phước Lâm, thị xã Hội An, tỉnh Quảng
Nam. Đại giới đàn này, Hòa thượng Ấn Bổn Vĩnh Gia (1840-1918) làm Đàn
đầu, Hòa thượng Thanh Minh Tâm Truyền (1832-1911) làm Giáo thọ và Hòa
thượng Hoàng Phú làm Yết-ma. Phần nhiều các giới tử trong giới đàn này
về sau đều trở thành những bậc long tượng lừng lẫy trong sơn môn, như
quý Hòa thượng Trừng Thông Tịnh Khiết (1891-1973) Đệ nhất Tăng Thống
GHPGVNTN, Hòa thượng Trừng Thủy Giác Nhiên (1878-1979) Đệ nhị Tăng Thống
GHPGVNTN, Hòa thượng Trừng Thành Giác Tiên (1880-1936) một bậc Cao tăng
vô cùng lỗi lạc và là một vị Tăng già tiên phong, nỗ lực hết mình trong
công cuộc chấn hưng Phật giáo tại miền Trung v.v…
Năm Tân Hợi, 1911, Hòa thượng có chỉ chuẩn của vua Duy Tân (1907-1916) về Trú trì quốc tự Diệu Đế, Huế.
Đến
ngày 10 tháng 3 năm Mậu Ngọ (10.4.1918), Ngài Tăng cang quốc tự Diệu Đế
viên tịch. Bộ Lễ lại có phiến tấu, vua Khải Định (1916-1925) đã chuẩn
tấu Hòa thượng kế tục giữ chức Tăng cang quốc tự Diệu Đế, từ đầu năm Kỷ
Mùi, 1919 cho đến năm Bính Dần, 1926 thì Hòa thượng Thanh Tú Tuệ Pháp
(1871-1927) lên thay.
Vào
ngày 15.6 năm Giáp Tý (16.7.1924), vua Khải Định có sắc chỉ mở giới đàn
tại chùa Từ Hiếu và cung thỉnh Hòa thượng làm Đàn đầu, Hòa thượng Thanh
Trí Tuệ Giác, trú trì chùa Quảng Tế làm Yết-ma, Hòa thượng Thanh Tú Tuệ
Pháp, trú trì chùa Thiên Hưng làm Giáo thọ. Quý Hòa thượng Trừng Thành
Giác Tiên, Trừng Thủy Giác Nhiên, Trừng Hương Tịnh Hạnh và Trừng Thông
Tịnh Khiết làm Kiến đàn.
Đây
là một giới đàn được tổ chức rất qui mô tại kinh đô Huế, sau 33 năm kể
từ giới đàn được khai giới vào ngày 19.4 năm Giáp Ngọ, niên hiệu Thành
Thái thứ 6, 1894 do Hòa thượng Hải Thuận Diệu Giác (Bổn sư của Hòa
thượng) làm Đàn đầu.
Giới
đàn này vân tập hơn 400 giới tử xuất gia và đông đảo giới tử tại gia.
Các giới tử xuất thân từ giới đàn này về sau là những bậc Tăng già lỗi
lạc trong Thiền môn như Hòa thượng Tâm Ấn Viên Quang (1894-1977) (thường
tôn xưng là Ôn Vĩnh Thừa) khai sơn chùa Châu Lâm, Huế, Thượng tọa Tâm
Địa Mật Khế (1904-1935) một vị Giáo thọ sư tài năng và đức độ tại các
Đạo tràng Phật học ở Huế, Hòa thượng Trừng Nguyên Đôn Hậu (1905-1992),
gần 50 năm trú trì chùa Linh Mụ, Đệ tam Tăng Thống GHPGVNTN, Tỳ-kheo ni
Trừng Ninh Diệu Hương (1884-1971), vị Ni trưởng có công đầu trong việc
thành lập và lãnh đạo xuất sắc Ni bộ Bắc tông Thừa Thiên- Huế…
Có
thể nói, đây là một giới đàn đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong tâm
trí nhiều thế hệ Tăng Ni, Phật tử suốt cả dải đất miền Trung trong
nhiều thập kỷ qua.
Năm
Ất Sửu, 1925, Sơn môn Tăng già cung thỉnh Hòa thượng chứng minh Lễ
trùng san Pháp Bảo Đàn kinh do nhị vị Hòa thượng Trừng Thành Giác Tiên,
Trừng Hương Tịnh Hạnh (bào huynh của Hòa thượng Trừng Thông Tịnh Khiết)
trú trì chùa Tường Vân tăng bổ. Đại sư Trừng Thông Viên Thành, khai sơn
chùa Tra Am đề bạt. Đây là khắc bản Pháp Bảo Đàn kinh đầu tiên tại kinh
đô Huế. (Bản khắc này hiện không rõ tàng trữ tại chùa nào hay đã thất
lạc!)
Hòa
thượng không chỉ uyên thâm tư tưởng Thiền và Tịnh độ tông, mà ngài còn
tinh thông cả lễ nhạc Phật giáo và lễ nhạc cung đình. Độ thẩm định âm
nhạc của Hòa thượng rất tinh tường, các nhà nghiên cứu âm nhạc cả hai
lãnh vực này đều hết lời khâm phục.
Hòa
thượng cũng là vị cao tăng có sáng kiến “chế tác” ra chiếc áo “nhật
bình” để thay thế cho chiếc áo “tràng xiêng” mà chư Tăng thời bấy giờ và
ngày nay thường mặc. Sáng kiến này đã được chư vị tôn túc trong Sơn môn
thời bấy giờ công nhận và vô cùng khen ngợi.
Suốt
34 năm - từ năm Giáp Ngọ, 1894 đến năm Mậu Thìn, 1928 - kể từ lúc Hòa
thượng thọ Đại giới cho đến khi ngài viên tịch. Hòa thượng đã thu nhận
và giáo dưỡng cho 94 (chín mươi bốn) (4) vị đệ tử xuất gia và hơn 500 đệ
tử tại gia. Trong số 94 vị đệ tử xuất gia, thì có đến Chín vị Cao đệ.
Chín vị Cao đệ này, đều có pháp hiệu là chữ “GIÁC”. Do đó, từ nhiều thập
kỷ qua, Tăng Ni và Phật tử Thừa Thiên-Huế thường tôn xưng quý Ngài là “Cửu Giác Hòa thượng”.
Có
thể thấy, chỉ riêng việc giáo dưỡng và đào tạo nên tân trào “Cửu Giác”
cũng đã chói sáng cả sự nghiệp hoằng hóa vô cùng lớn lao của Ngài.
4. Năm tháng cuối đời
Những
năm tháng cuối đời, mặc dầu pháp thể khiếm an, nhưng lúc nào Hòa thượng
cũng ân cần lo lắng đến việc giáo dưỡng chúng Tăng. Từ tâm và sự lo
lắng của Hòa thượng không chỉ làm xúc động các đệ tử cận kề, mà còn lan
tỏa khắp chốn Thiền môn.
Đầu
mùa Xuân năm Mậu Thìn, 1928 bệnh tình ngài nhiễm nặng, chư vị đệ tử đã
tận tình chăm sóc, nhưng vào giờ Thìn, ngày mồng 6 tháng 3 (từ 7 giờ đến
9 giờ sáng ngày 25.4.1928), ngài an nhiên xả bỏ báo thân. Thọ 60 tuổi,
33 hạ lạp.
Khi
ngài thị tịch, chư vị tôn túc trong Sơn môn đều vô cùng thương tiếc,
không ngớt lời xưng tán từ tâm và đức độ cao cả của Ngài.
Đại sư Viên Thành cũng cũng là pháp hữu tương đắc của Hòa thượng, đã tỏ lời vô cùng thống thiết:
Chốn Song lâm mây ẩn bóng Ưu đàm, dứt nối tiếng chuông, dép cỏ đi về còn tưởng tượng.
Miền Thiếu thất trăng lồng gương Bát nhã, mênh mông bể học, thuyền từ che chở biết nhờ ai !.
(Câu này Đại sư soạn bằng văn Nôm)
Đại
sư còn soạn thêm câu đối bằng Hán văn, hiện được khắc ở hai trụ nơi bảo
tháp của Hòa thượng, có nội dung thâm sâu, trác việt:
四 十 一 代 臨 濟 振 禪 風 陶 鑄 功 深 誰 是 當 頭 喝 捧
五 十 九 年 閻 浮 垂 化 蹟 智 悲 願 滿 而 今 撒 手 還 家。
Âm:
Tứ thập nhất đại Lâm tế chấn Thiền phong đào chú công thâm thùy thị đương đầu hát bổng.
Ngũ thập cửu niên Diêm phù thùy hóa tích trí bi nguyện mãn nhi kim tát thủ hoàn gia.
Nghĩa:
Lâm tế đời bốn mươi mốt chấn chỉnh Thiền phong nung đúc công sâu còn ai trao truyền đánh hét.
Diêm phù thọ năm mươi chín rủ lòng giáo huấn trí bi nguyện đủ chừ đây buông thõng về nhà. (Nguyên Hạnh, dịch)
Bốn mươi mốt đời Lâm tế dựng Thiền phong rèn luyện công cao còn biết nhờ ai đánh la vào mặt.
Năm mươi chín năm Diêm phù vang giáo hóa trí bi trọn vẹn nay đành buông tay tiêu sái về nhà. (Nguyễn Văn Thoa, dịch)
(Trích từ Tra Am và sư Viên Thành)
***
Hòa
thượng là vị Cao tăng uyên thâm giáo pháp, đức hạnh cao siêu, tánh tình
hồn nhiên, phóng khoáng, không câu chấp tiểu tiết, nên chư tôn đức khắp
chốn Thiền môn đều hết lòng kính nể. Ngoài ra Ngài còn nhiếp hóa được
tất cả mọi người, mọi giới. Từ vua quan cho đến dân chúng, không ai là
không ngưỡng vọng đạo phong thanh thoát, từ tâm quảng bác của Ngài.
Sự
nghiệp Ngài lưu lại cho hậu thế là tấm gương vô cùng sáng chói cho các
thế hệ Tăng Ni, Phật tử hôm nay và ngày mai soi rọi để trưởng dưỡng thân
tâm.
Cao quý thay!
Hạnh nguyện cao cả của một vị Bổn sư đã tận tụy suốt đời để nuôi dưỡng và đào tạo nên Chín bậc Cao Tăng kỳ vĩ,
là những bậc long tượng Tăng già đã làm nên một giai đoạn lịch sử vẻ
vang và hưng thịnh bậc nhất cho nền Phật giáo Việt Nam hiện đại.
***
Sau
khi Hòa thượng viên tịch, môn đồ cung thỉnh Hòa thượng Trừng Văn Giác
Nguyên, trưởng tử của ngài kế tục trú trì. Đến năm Canh Thân, 1980, Hòa
thượng Giác Nguyên viên tịch. Theo Thiền phổ của môn phái chùa Tây
Thiên, hiện tiền còn có Hòa thượng Tâm Khai Trí Ấn Nhật Liên, đệ tử của
Hòa thượng Giác Nguyên, kế thế trú trì. Tuy nhiên, vì tuổi cao, nên Hòa
thượng ít có thời gian về thường trú tại chùa. Mọi Phật sự ở chùa đều
giao cho Thượng tọa Giám tự Nguyên Không Từ Phương quán xuyến. Đến năm
Nhâm Ngọ, 2002 thì thành lập Ban Điều hành môn phái. Đầu năm 2005,
Thượng tọa Từ Phương viên tịch. Sau đó thì Đại đức Quảng Đại Nguyên Minh
kế tục làm Giám tự cho đến ngày nay.
IV. THỜI KỲ CHÍN BẬC CAO TĂNG XUẤT HIỆN
Từ
sau khi Hòa thượng Thanh Ninh Tâm Tịnh thọ Đại giới (Giáp Ngọ, 1894)
cho đến năm viên tịch (Mậu Thìn, 1928), ngài đã thu nhận và giáo dưỡng
đến 94 (chín mươi bốn) vị đệ tử xuất gia. Trong đó có đến chín vị cao đệ
và trong số chín vị này, có sáu vị đã xin thọ giáo với ngài tại chùa Từ
Hiếu, tức là trong thời gian ngài từ chùa Bảo Quốc lên hầu hạ Hòa
thượng Hải Thiệu Cương Kỹ và gần bốn năm đảm nhận chức vụ trú trì.
Đó là quý Hòa thượng:
1. Trừng Văn Giác Nguyên (1877-1980)
2. Trừng Thủy Giác Nhiên (1878-1979)
3. Trừng Thành Giác Tiên (1880-1936)
4. Trừng Huệ Giác Viên (1883-1942)
5. Trừng Nhã Giác Hải (1882-1938)
6. Trừng Thanh Giác Bổn ( ? -1949)
Đến
năm Nhâm Dần, 1902, ngài giao nhiệm vụ trú trì chùa Từ Hiếu lại cho
pháp đệ Thanh Thái Tuệ Minh (1861-1939), rồi về ấp Thuận Hòa, làng Dương
Xuân hạ, huyện Hương Thủy để lập thảo am thì các vị đệ tử này cùng đi
theo ngài. Điều này đã thể hiện sâu sắc chí nguyện và quyết tâm cầu pháp
của các đệ tử đối với một vị Bổn sư đầy trí tuệ, đức độ và tài năng,
nhất là tấm lòng lân mẫn vô bờ bến của ngài đối với đồ chúng.
Từ
khi lập thảo am Thiếu Lâm trượng thất và những năm về sau, lại có rất
nhiều đệ tử đến xin thọ giáo với ngài, trong đó có thêm ba vị Cao đệ.
Đó là quý Hòa thượng:
7. Trừng Ba Giác Ngạn ( ? - ? )
8. Tâm Cảnh Giác Hạnh (1880-1981)
9. Trừng Nguyên Giác Thanh (1905-1992) (tự Đôn Hậu)
Thời
gian quý Hòa thượng xuất gia, thọ giới cũng là thời kỳ đất nước Việt
Nam chúng ta đang đắm chìm trong nô lệ. Các thế lực ngoại đạo đang bành
trướng mạnh mẽ khắp mọi nơi. Nền văn hóa và niềm tín ngưỡng tâm linh
rạng rỡ của dân tộc đang dần dần bị mất gốc bởi sự xâm lấn của nền văn
hóa ngoại lai. Trong khi đó thì tinh thần tu tập, hành trì giáo pháp của
một số đông Tăng, tín đồ Phật giáo lại đang đi dần đến chỗ trì trệ, tha
hóa. Thực trạng này đã được Sử gia Mật Thể, trong Việt Nam Phật giáo sử
lược, nhận định: “Phật giáo về thời kỳ này đã kém lắmrồi,
nên dẫu các triều vua vẫn tín ngưỡng, sùng phụng làm chùa, đúc chuông
mà tinh thần Phật giáo vẫn suy... Tăng đồ trong nước lần lần sa vào con
đường trụy lạc, cờ bạc, rượu chè, đắm trước thanh sắc. Ở trong Tăng đồ
thì như vậy, ở ngoài tín đồ, cư sĩ thì ngơ ngác ù òa, tin bướng, theo
càn, ít ai là người hiểu đạo lý…”
Mặc
dầu tình trạng trì trệ, tha hóa diễn ra khắp nơi, nhưng trong các Thiền
môn thanh tịnh, nhiều bậc Cao tăng, thạc đức ngày đêm vẫn thường quan
tâm lo lắng đến tiền đồ hưng vong của Đạo pháp, quý ngài vẫn không ngừng
nỗ lực tìm phương kế để đào tạo Tăng tài, xiển dương Chánh pháp, nhằm
củng cố niềm tin và đánh thức tinh thần đang sa sút của đông đảo Tăng,
tín đồ.Nhờ
sự tận tụy và dày công giáo dưỡng của quý ngài nên trong giai đoạn Đạo
pháp nhiễu nhương này đã có một thế hệ Tăng đồ đạo cao, đức trọng, trí
tuệ và tài năng lỗi lạc xuất hiện. Trong đó, có Chín bậc Cao tăng kỳ vĩ
của chùa Tây Thiên.
Tuy
nhiên, khi quý ngài xuất hiện, mặc dầu chư tôn đức Cao tăng tiền bối đã
có nhiều cố gắng để chấn chỉnh Tông môn, tô bồi mạng mạch cho nền Phật
giáo nước nhà, nhưng sự cố gắng của quý ngài cũng chưa có cơ duyên bao
quát để khởi động cho tinh thần và sự sinh hoạt của Tăng, tín đồ phát
triển rộng rãi đến mức khả quan.
Mãi
cho đến khi cao trào phục hưng Phật giáo tại chính quốc Ấn Độ, Tích Lan
(Sri Lanka), nhất là tại đất nước Phật giáo Đại thừa Trung Hoa diễn ra
rầm rộ, thì âm vang hùng tráng của các cao trào này mới thực sự góp phần
đánh thức tinh thần và trách nhiệm của đông đảo Tăng, tín đồ Phật giáo
Việt Nam.
Thế
hệ quý ngài xuất hiện, hiệp cùng các bậc long tượng Tăng già trong Sơn
môn, cùng rất nhiều cư sĩ thiện tri thức giàu tâm huyết đã dung nhiếp và
kết hợp hài hòa mọi năng lực, đã chuyển hóa tinh thần rã rời, sa sút
thành một cao trào phục hưng Phật giáo mạnh mẽ khắp cả ba miền Bắc Trung
Nam Việt Nam.
Trí
tuệ, tài năng và chí nguyện cao cả của quý ngài cùng với cơ duyên thuận
lợi này, từ đó đã mở ra cho Phật giáo Việt Nam một thời kỳ hưng thịnh
và kéo dài mãi đến ngày nay.
Để
được rõ hơn công nghiệp và hạnh nguyện kỳ vĩ của quý ngài, chúng tôi
xin trình bày sơ lược vài nét chính yếu trong phần tiểu sử:
Thứ nhất: Hòa thượng Trừng Văn Giác Nguyên (1877-1980)
Hòa thượng thế danh là Đặng Ngộ, sinh năm Đinh Sửu, 1877, tại xã Phủ Trung, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
Năm
6 tuổi, cha mẹ đều mất, được bà cô ruột nuôi dưỡng; sau đó, lại được
Thái giám Nguyễn Đình Huề xin đem về Huế, nuôi cho ăn học, rồi đổi ra họ
Nguyễn Đình.
Năm
14 tuổi (Tân Mão, 1891), xin đầu sư với Hòa thượng Hải Thiệu Cương Kỹ
tại chùa Từ Hiếu. Năm 19 tuổi (Bính Thân,1896), thọ Sa-di giới với Hòa
thượng Thanh Ninh Tâm Tịnh, được đặt pháp danh là Trừng Văn, pháp tự là
Chí Ngộ. Năm 29 tuổi (Bính Ngọ, 1906), thọ Cụ túc giới tại giới đàn chùa
Phước Lâm, Quảng Nam. Cũng trong năm này, Hòa thượng đắc pháp, được ban
pháp hiệu là Giác Nguyên.
Năm Mậu Thìn, 1928, Tổ Tâm Tịnh viên tịch, Hòa thượng kế thế trú trì chùa Tây Thiên.
Năm
Ất Hợi, 1935, Hòa thượng là người trợ duyên đắc lực nhất cho chư Hòa
thượng trong Sơn môn Thừa Thiên và cư sĩ thiện tri thức trong An Nam
Phật học hội, thành lập một Phật học viện rất qui mô tại chùa Tây Thiên.
Năm
Tân Mão, 1951, “Hội nghị Phật giáo toàn quốc Việt Nam” tại chùa Từ Đàm,
Huế, cung thỉnh Hòa thượng vào Hội đồng chứng minh tối cao cho Tổng Hội
Phật giáo Việt Nam.
Năm
86 tuổi (Quý Mão, 1963), ngài cùng chư Đại lão Hòa thượng trong Tổng
Hội Phật giáo Việt Nam và Giáo hội Tăng già Trung Phần, chống gậy dẫn
đầu đoàn tuần hành tại Huế, để đòi hỏi tự do tín ngưỡng và bình đẳng tôn
giáo trong thời kỳ chế độ Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo tại Việt Nam.
Năm Đinh Mùi, 1967, Hòa thượng tổ chức và chứng minh “Tịnh nghiệp Đạo tràng” tại chùa Tây Thiên.
Đệ tử xuất gia của ngài có nhiều vị lỗi lạc như Hòa thượng Tâm Thọ Thiện Hỷ (1914-1969), Hòa thượng Tâm Khai Trí Ấn Nhật Liên…
Ngày
mồng Một Tết nguyên đán năm Canh Thân (16.02.1980), ngài an nhiên thị
tịch, sau 52 năm kế thế trú trì và cống hiến nhiều công sức cho công
cuộc xây dựng một Phật học viện lừng danh tại chùa Tây Thiên.
Thứ hai: Hòa thượngTrừng Thủy Giác Nhiên (1878-1979)
Hòa thượng thế danh là Võ Chí Thâm, sinh năm Mậu Dần, 1878, tại làng Ái Tử, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
Năm 18 tuổi (Bính Thân, 1896), ngài xuất gia thọ giáo với Hòa thượng Thanh Ninh Tâm Tịnh tại chùa Từ Hiếu.
Năm
20 tuổi (Mậu Tuất, 1898) thọ Sa-di giới, được Bổn sư đặt pháp danh
Trừng Thủy, tự Chí Thâm. Năm 28 tuổi (Bính Ngọ, 1906), thọ Cụ túc giới
tại giới đàn chùa Phước Lâm, Quảng Nam. Năm Đinh Mùi, 1907, Hòa thượng
đắc pháp, được Bổn sư ban pháp hiệu là Giác Nhiên. Sau khi thọ Đại giới,
Hòa thượng vào Tổ đình Thập Tháp, Bình Định, xin cầu pháp với Hòa
thượng Phước Huệ, được một thời gian rồi ra Huế tham học với Hòa thượng
Thanh Tú Tuệ Pháp tại chùa Thiên Hưng.
Năm
Nhâm Thân, 1932, Hòa thượng cùng năm vị Tăng già trong Sơn môn và 17 vị
cư sĩ thiện tri thức ở Huế sáng lập An Nam Phật học hội.
Năm
Quý Dậu, 1933, Hòa thượng cùng với Hòa thượng Giác Tiên vận động thành
lập và xuất bản Tạp chí Viên Âm để làm cơ quan hoằng pháp cho Hội.
Năm
Giáp Tuất, 1934, Bộ Lễ của triều đình Huế cử Hòa thượng về trú trì Quốc
tự Thánh Duyên. Đến năm Bính Tý, 1936 lại có sắc chỉ lên giữ chức Tăng
cang.
Năm
Ất Hợi, 1935, Phật học viện Tây Thiên thành lập, An Nam Phật học hội
cung thỉnh Hòa thượng chứng minh và làm Giám đốc Phật học viện danh
tiếng này.
Năm
Mậu Dần, 1938, Sơn môn Tăng già Thừa Thiên công cử Hòa thượng lên trú
trì Tổ đình Thuyền Tôn. Đến năm Canh Thìn, 1940, Hòa thượng vận động đại
trùng tu Tổ đình này.
Năm
Tân Mão, 1951, “Hội nghị Phật giáo toàn quốc Việt Nam” họp tại chùa Từ
Đàm, Huế cung thỉnh Hòa thượng vào Hội đồng chứng minh tối cao cho Tổng
Hội Phật giáo Việt Nam, cùng với pháp huynh là Hòa thượng Trừng Văn Giác
Nguyên.
Năm
Bính Thân, 1956, Tổng trị sự Hội Việt Nam Phật học quyết định sáp nhập
Tăng học đường Khánh Hòa (Nha Trang) và Phật học viện Bảo Quốc (Huế)
thành “Phật học viện Việt Nam tại Trung Việt” và cung thỉnh Hòa thượng
làm Viện trưởng Phật học viện này. (Về sau, mới đổi lại là Phật học viện
Hải Đức, Nha Trang).
Năm
Mậu Tuất, 1958, cho đến năm Nhâm Dần, 1962, liên tiếp trong 4 niên
khóa, Hòa thượng đảm nhận trọng trách Chánh Hội trưởng Tổng trị sự Hội
Phật giáo Việt Nam tại Trung Phần.
Năm
85 tuổi (Quý Mão, 1963), ngài cùng chư Đại lão Hòa thượng Thích Tịnh
Khiết, Thích Giác Nguyên, Thích Giác Hạnh, cùng quý ngài trong Giáo hội
Tăng già Thừa Thiên chống gậy dẫn đầu đoàn tuần hành tại Huế để đòi hỏi
tự do tín ngưỡng và bình đẳng tôn giáo, trong thời kỳ chế độ Ngô Đình
Diệm đàn áp Phật giáo tại Việt Nam.
Năm
Quý Sửu, 1973, Đức Đệ nhất Tăng Thống viên tịch, Hội đồng Lưỡng viện
long trọng cung thỉnh ngài lên ngôi vị Đệ nhị Tăng Thống GHPGVNTN.
Năm
Giáp Dần, 1974, cuộc chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc đang còn tiếp
diễn, nhân danh Đức Tăng Thống, ngài gởi Thông điệp kêu gọi chấm dứt
chiến tranh và lập lại hòa bình trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Một năm sau
(năm 1975) cuộc chiến kết thúc.
Đệ
tử xuất gia của ngài có nhiều vị rất xuất sắc như Hòa thượng Tâm Thị
Thiện Minh (1922-1978), Hòa thượng Tâm Phật Thiện Siêu (1921-2001), Hòa
thượng Thiện Bình…
Ngày
mồng 6 tháng Giêng năm Kỷ Mùi (02.02.1979), ngài thị tich, sau 41 năm
làm trú trì Tổ đình Thuyền Tôn, 6 năm ở ngôi vị Tăng Thống và suốt cả
cuộc đời đã cống hiến cho sự tồn vong của Đạo pháp.
Thứ ba :Hòa thượngTrừng Thành Giác Tiên (1880-1936)
Hòa
thượng họ Nguyễn (hiện tại chúng tôi chưa tìm thấy có sử liệu nào ghi
thế danh của ngài), sinh năm Canh Thìn, 1880, tại làng Dạ Lê, huyện
Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên.
Năm 14 tuổi (Giáp Ngọ, 1894), xuất gia thọ giáo với Hòa thượng Tâm Tịnh tại chùa Từ Hiếu.
Năm 20 tuổi (Canh Tý, 1900), thọ Sa-di giới, được Bổn sư đặt pháp danh là Trừng Thành, pháp tự Chí Thông.
Năm
Nhâm Dần, 1902 theo thầy về ấp Thuận Hòa, làng Dương Xuân hạ, huyện
Hương Thủy, phụ giúp thầy lập thảo am Thiếu Lâm trượng thất.
Năm
Quý Mão, 1903, thể theo lời cung thỉnh của tỳ-kheo ni Thanh Linh Diên
Trường và được sự chấp thuận của Bổn sư, Hòa thượng lên khai sơn và trú
trì chùa Trúc Lâm Đại thánh. (5)
Năm
Canh Tuất, 1910, thọ Cụ túc giới tại giới đàn chùa Phước Lâm, Quảng
Nam. Đến năm Bính Thìn, 1916, được Tổ truyền tâm ấn, phú pháp kệ và ban
hiệu là Giác Tiên.
Năm
Ất Sửu, 1925, hợp lực cùng Hòa thượng Trừng Hương Tịnh Hạnh (bào huynh
của Hòa thượng Trừng Thông Tịnh Khiết) tăng bổ và khắc bản Pháp Bảo đàn
kinh. Đây là khắc bản duy nhất tại kinh đô Huế.
Năm Bính Dần, 1926, được chỉ chuẩn của vua Bảo Đại, Hòa thượng về trú trì Quốc tự Diệu Đế, Huế.
Năm Canh Ngọ, 1930, nhận thấy tinh thần tu học của đông đảo Tăng đồ ngày càng sa sút, Hòa thượng tổ chức “Sơn môn Phật học đường Trúc Lâm” và vào Tổ đình Thập Tháp ở Bình Định, cung thỉnh Hòa thượng Phước Huệ ra chủ giảng cho Phật học đường này.
Năm
Nhâm Thân, 1932, Hòa thượng khởi xướng và vận động chư tôn Hòa thượng
trong Sơn môn, cùng nhiều cư sĩ thiện tri thức ở Huế thành lập An Nam
Phật học hội.
Năm
Quý Dậu, 1933, cùng với Hòa thượng Giác Nhiên, Bác sĩ Tâm Minh Lê Đình
Thám, ngài lại khởi xướng việc xuất bản Tạp chí Viên Âm để làm cơ quan
hoằng pháp cho Hội.
Năm
Ất Hợi, 1935, Hòa thượng lại nỗ lực vận động thành lập một Phật học
viện rất qui mô tại chùa Tây Thiên, nhằm xúc tiến công cuộc đào tạo Tăng
tài cho Phật giáo tại miền Trung.
Hòa
thượng là vị Bổn sư có nhiều đệ tử xuất gia xuất sắc như: Thượng tọa
Tâm Địa Mật Khế (1904-1935), Tâm Nhất Mật Thể (1912-1961), quý Hòa
thượng Tâm Hương Mật Hiển (1907-1992), Tâm Như Mật Nguyện (1911-1973),
Sư bà Ni trưởng Tâm Hảo Diệu Không (1905-1997), cùng nhiều đệ tử tại gia
cũng vô cùng xuất sắc như Bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám (1897-1969), vợ
chồng Bác sĩ Trương Xướng…
Ngày
mồng 4 tháng 10 năm Bính Tý (17.11.1936), ngài thị tịch, sau 33 năm làm
trú trì và không ngừng nỗ lực đào tạo Tăng tài, chỉnh đốn môn qui. Hòa
thượng là vị Tăng già tiên phong và lỗi lạc bậc nhất trong cao trào chấn
hưng Phật giáo tại miền Trung.
Thứ tư :Hòa thượngTrừng Huệ Giác Viên (1883-1942)
Hòa thượng thế danh là Đỗ Khắc Dụng, sinh năm Quý Mùi, 1883, tại làng Bích Khê, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
Năm 14 tuổi (Đinh Dậu, 1897), xuất gia thọ giáo với Hòa thượng Thanh Ninh Tâm Tịnh tại chùa Từ Hiếu.
Năm 19 tuổi (Nhâm Dần, 1902), thọ Sa-di giới, được Bổn sư đặt pháp danh là Trừng Huệ, pháp tự Chí Lâm.
Năm
27 tuổi (Canh Tuất, 1910), thọ Cụ túc giới tại giới đàn chùa Phước Lâm,
Quảng Nam. Hòa thượng đắc giới Thủ Sa-di trong Đại giới đàn này. Một
năm sau, ngài đắc pháp, được Tổ ban pháp hiệu là Giác Viên.
Năm
Tân Hợi, 1911, Hòa thượng xin phép Bổn sư lên làng Dương Xuân thượng
lập thảo am Thệ Đa Lâm. Đến năm Giáp Tuất, 1934, vì lụt lội, Hòa thượng
lại dời thảo am lên ngọn đồi gần đó rồi đổi tên là “Hồng Khê tự” cho đến
ngày nay.
Hòa
thượng là vị Cao tăng uyên thâm Tam tạng giáo điển và tinh thông Hán
học, nên thường được cung thỉnh làm Tuyên Luật sư tại các Đại giới đàn.
Hòa thượng còn là một vị Pháp sư danh tiếng tại Đạo tràng Trường Kỳ,
Bạch Sa ở tỉnh Quảng Ngãi và Đạo tràng Phật học ở chùa Đại Bi, tỉnh
Thanh Hóa.
Đệ
tử xin theo học với ngài rất đông, trong đó có vị pháp đệ lừng danh là
Hòa thượng Trừng Nguyên Giác Thanh (tự Đôn Hậu) (1905-1992), cùng quý
Hòa thượng Thị Chí Phúc Hộ (1904-1985) ở chùa Sắc tứ Từ Quang, Phú Yên,
Hòa thượng Tâm Như Trí Thủ (1907-1984) ở chùa Bảo Quốc, Hòa thượng Huyền
Không ở chùa Quốc Ân, Huế…
Đệ
tử xuất gia thọ giáo với ngài không nhiều, nhưng trong đó cũng có vị
xuất sắc như Hòa thượng Tâm Lượng Diệu Hoằng ở chùa Diệu Đế và chùa Kim
Quang, Huế.
Ngày
18 tháng 6 năm Nhâm Ngọ (30.7.1942), ngài thị tịch, sau 31 năm làm trú
trì chùa Thệ Đa Lâm rồi Hồng Khê và là vị Hòa thượng đã cống hiến nhiều
công sức vào sự nghiệp đào tạo Tăng tài cho Phật giáo tại miền Trung.
Thứ năm : Hòa thượng Trừng Nhã Giác Hải (1882-1938)
Hòa
thượng thế danh là Nguyễn Văn Cẩm, sinh năm Nhâm Ngọ, 1882 tại làng
Trung Kiên, tổng Bích La, huyện Đăng Xương, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng
Trị.
Năm 14 tuổi (Mậu Tuất, 1898), xuất gia thọ giáo với Hòa thượng Thanh Ninh Tâm Tịnh tại chùa Từ Hiếu.
Năm
19 tuổi (Tân Sửu, 1901) thọ Sa-di giới, được Bổn sư đặt pháp danh là
Trừng Nhã, pháp tự là Chí Thanh. Năm 27 tuổi (Canh Tuất, 1910) thọ Cụ
túc giới tại giới đàn chùa Phước Lâm, Quảng Nam. Sau đắc pháp với Tổ,
được ban pháp hiệu là Giác Hải.
Ngài
là vị Hòa thượng tinh thông giáo điển, nên vào năm Canh Thân, 1920 khi
Tổ Tâm Tịnh lập Đạo tràng để đào tạo Tăng tài tại chùa Tây Thiên, ngài
đã trợ duyên đắc lực cho Tổ trong việc giảng dạy và duy trì Đạo tràng
này suốt một thời gian dài.
Sau
khi Tổ Tâm Tịnh viên tịch (Mậu Thìn, 1928), Hòa thượng xin các pháp
huynh về làng An Cựu tây, xã Thủy An, huyện Hương Thủy lập thảo am Duy
Tôn để làm cơ sở tịnh tu và hoằng dương Chánh pháp. Cũng trong năm này,
Đại giới đàn tại chùa Từ Vân, Quảng Nam cung thỉnh Hòa thượng làm Đệ lục
tôn chứng. Qua năm Kỷ Tỵ, 1929, chùa được xây dựng qui mô và Hòa thượng
đổi tên thành “Giác Lâm tự” cho đến ngày nay.
Đệ tử xuất gia của ngài không nhiều, hiện tiền chỉ còn có vị Trưởng tử của ngài là Hòa thượng Tâm Hiểu Khả Tấn kế thế trú trì.
Ngày
13 tháng 02 năm Mậu Dần (14.03.1938), ngài thị tịch, sau một thời gian
dài tích cực trợ duyên cho Bổn sư trong sự nghiệp đào tạo Tăng tài, chấn
chỉnh tông môn trong giai đoạn tiền chấn hưng Phật giáo và gần 10 năm
khai sơn, trùng tu và trú trì chùa Giác Lâm.
Thứ sáu :Hòa thượngTrừng Thanh Giác Bổn ( ? - 1949)
(Hiện
tại chúng tôi chưa tìm thấy có sử liệu nào ghi Thân thế và hạnh nguyện
của ngài. Tại chùa Từ Quang, Huế nơi ngài trú trì nhiều năm, quý Thầy
cũng không lưu giữ được một chút tư liệu nào, ngoài mấy dòng chính yếu
khắc trên long vị và bảo tháp của ngài. Chỉ có một vài chi tiết khá quan
trọng sau đây, cho biết như sau:
“Hòa thượng họ Hoàng (không rõ thế danh và năm sinh), người làng An Xuân, xã Quảng An, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên.
Không
rõ ngài xuất gia thọ giáo với Tổ Tâm Tịnh năm nào, nhưng đã được Tổ đặt
pháp danh là Trừng Thanh, pháp tự Diệu Nguyện. Sau khi thọ Cụ túc giới
một thời gian Hòa thượng đắc pháp, được Tổ ban pháp hiệu là Giác Bổn.
Hòa
thượng không chỉ tinh thông Hán học mà còn rất giỏi thi văn. Ngài là vị
pháp lữ vô cùng thân thiết và rất tâm đắc với Đại sư Chân Đạo Chánh
Thống (thường tôn xưng là Ôn Quy Thiện), một vị Thiền sư lỗi lạc và là
một thi sĩ tài hoa của chốn Thiền môn lúc bấy giờ. Qua bài thơ : “Xuân nhật truyđiệu Giác Bổn thượng nhân” của Đại sư Chân Đạo Chánh Thống, đã thể hiện sâu sắc điều tâm đắc giữa quý ngài.
Để được rõ hơn, chúng tôi xin phụ lục bài thơ này, qua bản Việt dịch của Giáo sư Tiến sĩ Lê Mạnh Thát, như sau:
Trên trời dẫu bực xuân yên vắng
Cõi thế đâu còn quỷ ghẹo lôi
Chỉ nên một niệm thành hay cảm
Đổi hết ba ly việc khác rồi”).
(trích Chân Đạo Chánh Thống toàn tập)
Ngoài
ra, trên một số sử liệu liên quan đến sự nghiệp của ngài trong suốt
những năm đầu thế kỷ XX, cho đến năm ngài viên tịch (Kỷ Sửu, 1949) còn
ghi rõ:
Năm
Nhâm Thân, 1932, sau khi thành lập, An Nam Phật học hội đã “cung thỉnh
Hòa thượng, cùng quý Hòa thượng Giác Nhiên, Giác Tiên và Giác Hạnh vào
Hội đồng chứng minh Đại đạo sư”.
Năm
Quý Dậu, 1933, Tạp chí Viên Âm ra đời, Hòa thượng cùng với Hòa thượng
Giác Hạnh là hai bậc “kinh tài” đắc lực cho mọi hoạt động của tạp chí
Viên Âm.
Năm
Mậu Dần, 1938, trong thời gian An Nam Phật học hội xây dựng chùa Hội
Quán, trên nền ngôi chùa Ấn Tôn-Từ Đàm, Hòa thượng đã nhượng chùa Từ
Quang để Hội đặt trú sở tạm trong thời gian xây dựng chùa. Suốt thời
gian này, Hòa thượng cũng không ngừng nỗ lực trợ duyên cho mọi hoạt động
của Hội.
Đệ
tử xuất gia của ngài có nhiều vị xuất sắc như Hòa thượng Tâm Thống
Quảng Nhuận (kế thế trú trì chùa Từ Quang), Tâm Thông Quảng Huệ
(1904-1950) (trú trì chùa Thiên Minh, Huế) Tâm Giải Tương Ưng
(1912-1994) (trú trì chùa Từ Quang, Huế)…
Ngày
24 tháng 10 năm Kỷ Sửu (13.12.1949), ngài thị tịch. Mặc dù các sử liệu
chưa sưu tập được nhiều, nhưng qua vài chi tiết nổi bật nêu trên, cũng
cho thấy Hòa thượng là người đã tích cực đóng góp nhiều công sức cho sự
phát triển của An Nam Phật học hội trong suốt thời kỳ Phật giáo chấn
hưng.
Thứ bảy :Hòa thượng Trừng Ba Giác Ngạn ( ? - ? )
Về
thân thế, hạnh nguyện của Hòa thượng, hiện tại chúng tôi chưa tìm thấy
được nhiều sử liệu, chỉ thấy trên bảng Danh tính phụng thờ ở bàn Tự
chúng tại Tổ đình Tây Thiên, có ghi pháp hiệu của ngài với đề khoản: “Tỳ-kheo Trừng Ba hiệu GiácNgạn Đại sư giác linh”. Ngoài ra, chẳng còn tư liệu nào khác.
Gần
đây, sau khi chư vị tôn túc trong môn phái chùa Tây Thiên phát hiện
được một ngôi mộ đất nhỏ, nằm ở gò nghĩa địa sau lưng chùa, về phía trái
cạnh lối vào chùa. Nơi nấm mộ đất này có chôn tấm bia xi măng, khắc sơ
lược dòng chữ bằng tiếng Việt như sau: “Lâm Tế tứ thập nhị thế Sa mônTrừng Ba tự Chí Tân hiệu Giác Ngạn Nguyễn công giác linh”.Lạc khoản đề : “Môn đồ pháp lữ phụng lập năm Giáp Thìn, 1964”.
Qua dòng chữ trên bia, thì rõ đó là mộ phần của Hòa thượng Trừng Ba Giác Ngạn. Nội dung văn bia còn cho biết thêm:
Hòa
thượng họ Nguyễn (không rõ thế danh). Ngài xuất gia thọ giáo với Hòa
thượng Tâm Tịnh, sau khi thọ Sa-di giới được Bổn sư đặt pháp danh là
Trừng Ba, pháp tự là Chí Tân. Đến khi thọ Cụ túc giới và đắc pháp lại
được Bổn sư ban pháp hiệu là Giác Ngạn.
Chúng
tôi nhớ, vào khoảng thập kỷ 50, 60 của thế kỷ trước, thỉnh thoảng vẫn
được nghe quý Ôn, quý Thầy nhắc đến pháp hiệu của ngài với lời xưng tán:
“Hòa thượng là một vị Thiền sư sống rất tĩnh lặng, thanh thoát, ngài
thường đi du hóa khắp nơi, không an trú ở một phương sở nào. Chỉ có một
thời gian ngài lên trú trì chùa Kim Đài ở làng Châu Chữ, xã Thủy Bằng,
huyện Hương Thủy (gần lăng vua Khải Định), rồi sau đó ngài đi đâu không
rõ”.(tại chùa Kim Đài hiện cũng không thấy long vị thờ ngài và cũng
không còn dấu tích gì của ngài lưu lại).
Ngày
nay, dẫu sao thì phần tiểu sử của ngài vẫn chưa được sưu tập đầy đủ, sự
viên tịch của ngài vẫn đang là một ẩn số, nhưng việc phát hiện được
ngôi mộ của ngài vừa qua cũng là điều vô cùng quý báu. Quý báu hơn nữa
là đầu mùa thu năm Bính Tuất, 2006 chư tôn túc Môn phái Tổ đình Tây
Thiên đã xây dựng bảo tháp và long trọng cung táng nhục thân của ngài.
Việc làm này đã thể hiện tấm lòng ngưỡng vọng của thế hệ chư Tăng hậu
thế đối với ân đức và hạnh nguyện của một vị Cao tăng trong hàng Chín
bậc Cao tăng kỳ vĩ của chùa Tây Thiên.
Thứ tám :Hòa thượng Tâm Cảnh Giác Hạnh (1880-1981)
Hòa thượng thế danh là Nguyễn Đức Cử, sinh năm Canh Thìn, 1880, tại làng Ái Tử, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
Năm 17 tuổi (Đinh Dậu, 1897), xin xuất gia tại chùa Từ Hiếu.
Năm
19 tuổi (Kỷ Hợi, 1899), thọ Sa-di giới với Hòa thượng Trừng Chiêm Huệ
Nhật, tri sự chùa Từ Hiếu, được Bổn sư đặt pháp danh là Tâm Cảnh, pháp
tự Thiện Quyên. Năm Canh Tuất, 1910 thọ Cụ túc giới tại giới đàn chùa
Phước Lâm, Quảng Nam.
Năm
Ất Mão, 1915 được sự chấp thuận của Bổn sư, Hòa thượng về trú trì Phổ
Phúc am. Am này, do Hiệp tá Đại học sĩ Nguyễn Đình Hòe xây dựng trên
ngọn đồi Bình An (gần con đường Nam Giao cũ, nay là đường Điện Biên
Phủ). Khi về trú trì, ngài nhận thấy cách thờ tự và sinh hoạt của Phổ
Phúc am có nhiều sắc thái mê tín, dị đoan, nên Hòa thượng đã dành nhiều
thì giờ để chỉnh đốn cho phù hợp với tinh thần chấn hưng của Phật giáo
lúc bấy giờ.
Năm
46 tuổi (Bính Dần, 1926), Hòa thượng đắc pháp với Tổ Tâm Tịnh tại chùa
Tây Thiên và được ban pháp hiệu là Giác Hạnh. Cũng trong năm này, Hòa
thượng trùng kiến Phổ Phúc am rồi đổi tên thành “Vạn Phước Di Đà tự”,
ngày nay thường gọi là chùa Vạn Phước.
Năm Nhân Thân, 1932, An Nam Phật học hội thành lập đã cung thỉnh Hòa thượng vào Hội đồng chứng minh Đại đạo sư.
Năm
Quý Dậu, 1933, An Nam Phật học hội xuất bản Tạp chí Viên Âm, Hòa thượng
là vị kinh tài đắc lực và lâu dài cho mọi hoạt động của tạp chí
này.Cũng trong năm này, được sự trợ duyên mạnh mẽ của Thượng tọa Tâm Địa
Mật Khế, Hòa thượng tổ chức và khai giảng Trường Sơ cấp Phật học tại
chùa Vạn Phước, cho đến năm Ất Hợi, 1935 mới chuyển lên sáp nhập vào
Phật học viện Tây Thiên.
Năm
Quý Mão, 1963, trong cuộc đàn áp Phật giáo của chế độ Ngô Đình Diệm,
Hòa thượng cùng chư vị Đại lão Hòa thượng trong Tổng Hội Phật giáo Việt
Nam và Giáo hội Tăng già dẫn đầu đoàn tuần hành tại Huế để tranh đấu cho
tự do tín ngưỡng và bình đẳng tôn giáo tại Việt Nam.
Năm Ất Tỵ, 1965, ngài giao nhiệm vụ trú trì cho Hòa thượng Tâm Hướng để dành thì giờ tịnh tu và an dưỡng tuổi già.
Năm Quý Sửu, 1973, Hội đồng Lưỡng Viện cung thỉnh Hòa thượng vào Hội đồng Trưởng lão Viện Tăng Thống.
(Theo
Thiền phổ, chúng tôi thấy Hòa thượng không có vị đệ tử nào, năm Ất Tỵ,
1965, Hòa thượng Nguyên Nguyện Tâm Hướng được giao nhiệm vụ trú trì,
cũng như Hòa thượng Nguyên Truyền Tâm Thọ đang trú trì chùa Vạn Phước
hiện nay, đều là đệ tử của Hòa thượng Tâm Trì Chánh Nguyên, trú trì chùa
Thiên Hưng).
Ngày
10 tháng 7 năm Tân Dậu (09.8.1981), ngài thị tịch, sau 50 năm làm trú
trì và chung vai gánh vác nhiều Phật sự cho đại cuộc chấn hưng Phật giáo
tại miền Trung.
Thứ chín :Hòa thượng Trừng Nguyên Giác Thanh (1905-1992) (6)
Hòa thượng thế danh là Diệp Trương Thuần, sinh năm Ất Tỵ, 1905 tại làng Xuân An, tổng An Đôn, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
Năm 17 tuổi (Nhâm Tuất, 1922) xuất gia thọ giáo với Hòa thượng Thanh Ninh Tâm Tịnh tại chùa Tây Thiên.
Năm
18 tuổi (Quý Hợi, 1923), thọ Sa-di giới tại giới đàn chùa Thuyền Tôn,
được Bổn sư đặt pháp danh là Trừng Nguyên, pháp tự là Đôn Hậu. Năm 19
tuổi (Giáp Tý, 1924), thọ Cụ túc giới tại giới đàn chùa Từ Hiếu, Thừa
Thiên.
Năm
Bính Dần, 1926, Hòa thượng được Bổn sư cho qua chùa Thệ Đa Lâm (tức
chùa Hồng Khê) tham học với pháp huynh là Hòa thượng Trừng Huệ Giác
Viên.
Năm Đinh Mão, 1927, lại được pháp huynh chuyển vào Tổ đình Thập Tháp, Bình Định xin theo học với Hòa thượng Như Trí Phước Huệ.
Năm
Nhâm Thân, 1932, Hòa thượng trở về Huế liền được An Nam Phật học hội
mời làm Giảng sư nòng cốt của Hội, liên tiếp trong 10 năm.
Năm
Ất Hợi, 1935, Phật học viện Tây Thiên khai giảng, Hòa thượng tiếp tục
theo học lớp Cao đẳng. Năm Bính Tý, 1936, lớp Cao đẳng tại Phật học viện
Tây Thiên được đổi tên thành “Xuân Kinh Đại Phật học tràng”. Năm Mậu
Dần, 1938, Hòa thượng tốt nghiệp chương trình Đại học Phật giáo với hạng
Ưu.
Năm
Canh Thìn, 1940 và Nhâm Ngọ, 1942, Hòa thượng sang thăm và thuyết pháp
cho Phật tử Việt kiều tại Vương quốc Lào. Cũng trong năm 1942, Sơn môn
Tăng già cung cử Hòa thượng về trú trì quốc tự Diệu Đế, Huế.
Năm
Ất Dậu, 1945, Việt Nam Phật học hội cung thỉnh Hòa thượng đảm nhận chức
vụ Chánh Hội trưởng. Cũng trong năm này, Sơn môn Tăng già lại công cử
Hòa thượng lên trú trì quốc tự Linh Mụ.
Năm
Bính Tuất, 1946, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, Hòa
thượng được mời giữ chức vụ Chủ tịch Hội Phật giáo Liên hiệp Trung Bộ và
Thành viên Ban chấp hành Hội Phật giáo Cứu quốc Thừa Thiên, Huế.
Năm
Đinh Hợi, 1947, Hòa thượng bị thực dân Pháp bắt giam và có lệnh xử bắn,
nhờ sự can thiệp kịp thời của bà Từ Cung, Hòa thượng mới được tha về.
Năm
Mậu Tý, 1948, Phật học đường Bảo Quốc và Ni viện Diệu Đức tái khai
giảng, đã cung thỉnh Hòa thượng làm Giáo thọ cho cả hai Học viện này.
Năm
Tân Mão, 1951, Hòa thượng tham dự “Hội nghị Phật giáo toàn quốc Việt
Nam” tại chùa Từ Đàm, Huế. Cũng trong năm này, Hòa thượng xin thôi giữ
chức vụ Chánh Hội trưởng Hội Việt Nam Phật học, để đảm nhận trọng trách
Giám luật Giáo hội Tăng già Trung Việt, rồi Giám luật Giáo hội Tăng già
Việt Nam.
Năm
Bính Thân, 1956, Giáo hội Tăng già Trung Việt kính thỉnh Hòa thượng làm
Chủ nhiệm Liên Hoa Văn tập. Qua năm Mậu Tuất, 1958, Liên Hoa Văn tập
đổi thành Liên Hoa Nguyệt san và nâng lên làm cơ quan Hoằng pháp của
Giáo hội Tăng già Việt Nam, Hòa thượng vẫn giữ trọng trách Chủ nhiệm.
Năm
Quý Mão, 1963, cuộc đấu tranh của Phật giáo Việt Nam với chính quyền
Ngô Đình Diệm phát khởi. Sau Hội nghị khẩn cấp tại Tổ đình Từ Đàm, Huế,
Năm Cấp Trị sự công cử Hòa thượng vào Ban Lãnh đạo phong trào. Hòa
thượng ra chỉ đạo phong trào đấu tranh tại tỉnh Quảng Trị, rồi trở về
Huế chỉ đạo phong trào tại chùa Diệu Đế, Huế, được một thời gian thì bị
chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giam vào đêm 20.8.1963.
Năm
Giáp Thìn, 1964, Viện Hóa Đạo bổ nhiệm Hòa thượng giữ trọng trách Chánh
Đại diện Miền Vạn Hạnh kiêm Chánh Đại diện Giáo hội Phật giáo tỉnh Thừa
Thiên và thị xã Huế.
Năm Ất Mão, 1975, Hội đồng Lưỡng Viện cung thỉnh Hòa thượng vào Hội đồng Trưởng lão Viện Tăng Thống.
Năm
Đinh Tỵ, 1977, Đại hội kỳ VII GHPGVNTN cung thỉnh Hòa thượng giữ chức
vụ Chánh Thư ký Viện Tăng Thống. Năm Kỷ Mùi, 1979, Đức Đệ nhị Tăng Thống
viên tịch, suốt hai năm (1979, 1980) Giáo hội vẫn chưa tổ chức được Đại
hội kỳ VIII, để suy tôn Đức Đệ tam Tăng Thống. Đầu năm 1981, Hội đồng
Giáo phẩm Trung Ương cung thỉnh Hòa thượng lên ngôi vị Xử Lý Thường Vụ
Viện Tăng Thống.
Cũng
trong năm này, Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành lập cũng đã suy tôn
khiếm diện Hòa thượng lên ngôi vị Đệ nhất Phó Pháp chủ kiêm Giám luật.
Nhưng vì lý do sức khỏe và trọng trách đang gánh vác, nên Hòa thượng đã
có thư xin từ chối đảm nhận hai chức vị nói trên.
Đệ tử xuất gia của Hòa thượng trên 50 vị, có nhiều vị xuất sắc như Hòa thượng Tâm Chánh Trí Chơn, Tâm Phật Trí Siêu …
Ngày
21 tháng 3 năm Nhâm Thân (23.4.1992), ngài thị tịch, sau gần 70 năm
không ngừng xả thân cho sự nghiệp hoằng dương Chánh pháp. Nhất là trong
khoảng thời gian Mười lăm năm ở ngôi vị Chánh Thư ký kiêm Xử lý Thường
vụ Viện Tăng Thống GHPGVNTN, ngài không chỉ để lại cho các thế hệ Tăng
Ni, Phật tử một niềm tin mạnh mẽ vào truyền thống hưng long của Đạo
pháp, mà công nghiệp kỳ vĩ của ngài còn chói lọi trong dòng lịch sử Phật
giáo Việt Nam.
Ngưỡng
vọng hạnh nguyện cao cả của ngài, vào năm Canh Thìn, 2000 Chư tôn Giáo
phẩm đã long trọng truy tôn Hòa thượng lên ngôi vị Đệ tam Tăng Thống
GHPGVNTN.
***
Trải
qua gần một trăm năm, công nghiệp và chí nguyện cao cả của quý ngài,
không chỉ cống hiến cho sự phát triển rực rỡ của nền Phật giáo Việt Nam
nói chung và Phật giáo tại miền Trung nói riêng, mà còn tiêu biểu xứng
đáng cho một thế hệ Tăng già đạo phong thanh thoát, giới hạnh tinh
nghiêm. Trí tuệ và tài năng lỗi lạc của quý ngài mãi mãi còn rạng ngời
trong dòng lịch sử Phật giáo Việt Nam, mãi mãi là những tấm gương đức
hạnh cao vời cho các thế hệ Tăng Ni, Phật tử noi theo để tu tập, hành
trì.
Quý
ngài không những đã kế thừa truyền thống Tông môn “Thiền Tịnh song tu”
của Bổn sư một cách sâu sắc, mà quý ngài cũng đã làm cho mạng mạch
truyền thừa của Môn phái chùa Tây Thiên ngày càng thêm rạng rỡ.
Cao quý thay !
Sự xuất hiện của Chín bậc Cao tăng kỳ vĩ chùa Tây Thiên.
Chú thích:
1.
Chúng tôi không rõ vì lý do gì, Hòa thượng là bậc Cao tăng lừng danh từ
nửa đầu thế kỷ XX, người có công rất lớn trong việc giáo dưỡng hàng
trăm vị đệ tử xuất gia, cũng như quý Hòa thượng Thanh Tú Tuệ Pháp, Tâm
Ấn Viên Quang, Đại sư Viên Thành, là những bậc Cao tăng lừng lẫy của
Phật giáo, lại không được Hội đồng Cố vấn, Ban Biên soạn và 36 cộng tác
viên, trong đó có Thượng tọa Nguyên Anh Hải Ấn của Phật giáo Huế, lại
không ghi tiểu sử quý Ngài vào Bộ “Tiểu sử Danh Tăng Việt Nam thế kỷ
XX”. Trong khi đó, các vị đệ tử của quý Ngài lại có ghi ?
Chúng tôi nghĩ, dù với lý do gì thì đây cũng là một việc làm có phần khiếm khuyết. Thật đáng tiếc !
2.
Trong Đặc san “Kỷ niệm 150 năm ngày Tổ khai sơn chùa Từ Hiếu viên
tịch”, do môn đồ chùa Từ Hiếu ấn hành năm Phật lịch 2541, 1997, ở các
trang 12, 60, 94 và 115 đều ghi là: “huyện Đăng XUYÊN”. Chắc là nhầm, vì
địa danh này chỉ gọi là Đăng XƯƠNG, chứ không có thời nào gọi là Đăng
XUYÊN.
Trong
sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, do Nxb Khxh. Hà Nội ấn hành năm
1977, ở trang 81 ghi: “huyện Đăng XƯƠNG, có 5 tổng…”.
Chúng
tôi xin nêu thêm một sử liệu có giá trị gần đây nhất, để bổ chính cho
sự nhầm lẫn này. Hiện trong nội dung văn bia nơi bảo tháp của Hòa thượng
Thanh Tú Tuệ Pháp, tại chùa Thiên Hưng, do Đại sư Viên Thành cẩn soạn
vào năm Đinh Mão, 1927, ghi rõ địa danh này như sau: “Thiên Hưng tự Giáo
thụ Hòa thượng bi minh. Giáo thụ Hòa thượng Quảng Trị tỉnh, Triệu Phong
phủ, Đăng XƯƠNG huyện, Bích La tổng, Trung Kiên thôn nhân dã…”.
3. Trong cuốn “Lịch sử Phật giáo xứ Huế” của TT. Hải Ấn và Hà Xuân Liêm, bản in năm 2001, tại Tp Hồ Chí Minh.,
ở trang 314 ghi: “Ngài Hải Thuận Lương Duyên, chùa Bảo Quốc
(1806-1892)…” Ở trang 316 lại ghi: “Ngày 13.01 năm Ất Mùi, 1892 thì Ngài
an nhiên thị tịch”. Rõ ràng, các niên đại trên đều xác định là Ngài
tịch vào năm 1892. Chắc là nhầm, vì năm Ất Mùi là năm 1895, chứ không
phải là 1892. Năm 1892 là Nhâm Thìn).
Hiện có hai sử liệu rất đáng tin cậy về năm tịch của Ngài Hải Thuận Lương Duyên như sau:
a.
Trong văn bia ở bảo tháp của Hòa thượng Thanh Tú Tuệ Pháp, tại chùa
Thiên Hưng, do Đại sư Viên Thành, chùa Tra Am cẩn soạn vào năm Đinh Mão,
1927 có nội dung như sau: “Thành Thái Giáp Ngọ niên, Sắc tứ Bảo Quốc
tự, khai Đại giới đàn, lễ Đỗ Lương Duyên Đại lão Hòa thượng, cầu thụ cụ
túc…”. Nghĩa là: “Năm Giáp Ngọ, 1894 dưới triều Thành Thái, chùa Bảo
Quốc mở Đại giới đàn, bèn đến lễ Đại lão Hòa thượng Lương Duyên, xin thọ
cụ túc”.
b.
Trong cuốn Việt Nam Phật giáo sử lược của TT. Mật Thể, bản in năm 1996
tại Huế, ở trang 201 ghi: “Năm Thành Thái thứ 6 (1895), (chắc là nhầm,
vì niên hiệu Thành Thái thứ 6 là năm Giáp Ngọ, 1894) Ngài mở Đại giới
đàn tại chùa Bảo Quốc, đến năm sau thì tịch. Thọ 91 tuổi”.
Các
sử liệu này cho thấy, đến năm Giáp Ngọ, 1894, Hòa thượng Hải Thuận Diệu
Giác chưa viên tịch. Theo Thượng tọa Mật Thể thì năm tịch của Ngài là
năm Bính Thân, 1896.
4.
Trong văn bia ở tháp Tổ khắc: “Tự pháp môn đại hữu cửu tứ, tứ chúng quy
y giả ngũ bách dư nhân”. Nghĩa là: “Đồ đệ nối pháp có 94 người, tứ
chúng quy y hơn 500 người”. Nhưng trong bản: “Tiểu sử Ngài Tâm Tịnh” do
môn đồ chùa Tây Thiên biên soạn thì ghi là: “Đồ đệ xuất sắc của Ngài có
49 vị, tín đồ quy y với Ngài không dưới 500”. Chúng tôi e rằng con số 49
là nhầm do thiếu cẩn thận khi đánh vi tính (94 thành 49).
5.
Trong bộ “Tiểu sử Danh Tăng Việt Nam thế kỷ XX”của TT. Đồng Bổn, bản in
năm 1996, ở trang 108 và bộ “Lịch sử Phật giáo xứ Huế” của TT. Hải Ấn
và Hà Xuân Liêm, bản in năm 2001, ở trang 426 đều cho rằng:” Hòa thượng
Giác Tiên được cung thỉnh lên khai sơn và trú trì chùa Trúc Lâm vào năm Đinh Sửu, 1913”.
Nhưng
trong cuốn “Tuyển dịch văn bia chùa Huế” của Lê Nguyễn Lưu, bản in năm
2005, tại Huế, ở trang 198 thì ghi rằng:” Chùa Trúc Lâm chính thức ra
đời góp mặt vào rừng Thiền xứ Huế từ năm Quý Mão, 1903”.
Chúng
tôi cho rằng cứ liệu của tác giả Lê Nguyễn Lưu rất phù hợp năm Hòa
thượng Giác Tiên lên khai sơn và trú trì chùa Trúc Lâm. Bởi lẽ, trong
văn bia ở tháp Tổ ghi :” Bà
tỳ-kheo ni Thanh Linh Diên Trường dựng chùa Trúc Lâm và mời Sư lên làm
tọa chủ khai sơn. Từ đó, tâm thiền trọn đủ, mưa pháp rộng ban. Sau lại gặp lúc Hòa thượng Vĩnh Gia, chùa Phước Lâm mở giới đàn lớn, Sư bèn chịu giới Cụ túc”. Rõ ràng, giới đàn này, khai giới vào năm Canh Tuất, 1910, sau khi Hòa thượng Giác Tiên lên chùa Trúc Lâm gần bảy năm.
6.
Về pháp hiệu “Giác Thanh” của ngài, hiện tại chúng tôi chỉ thấy xuất xứ
từ hai nguồn sử liệu : 1. Trong bản “Tiểu sử ngài Tâm Tịnh” do môn đồ
chùa Tây Thiên biên soạn năm 2002. Trong bộ “Lịch sử Phật giáo xứ Huế”
của TT. Hải Ấn và Hà Xuân Liêm, bản in năm 2001. Đó là những sử liệu mới
xuẩt bản gần đây, chưa phải là sử liệu gốc. Tuy đã nhiều lần được nghe
quý Ôn, quý Thầy nhắc đến pháp hiệu Giác Thanh của ngài, nhưng rất tiếc
là chúng tôi vẫn chưa tìm thấy nguồn sử liệu gốc, để biết rõ hơn về thời
điểm ngài được Tổ ban pháp hiệu này. Vì thế, khi cẩn soạn pháp hiệu
“Giác Thanh” chúng tôi cũng chỉ dè dặt nương theo hai nguồn sử liệu nói
trên.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1 Việt Nam Phật giáo sử lược của TT. Mật Thể, bản in năm 1996 tại Huế.
2 Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977.
3 Tra Am và Sư Viên Thành của Nguyễn Văn Thoa, Môn đồ Ba La và Tra Am ấn hành, năm Pl.2517, Giáp Dần, 1974.
4 Tiểu sử tự ghi của Hòa thượng Nhật Quang Trí Quang.
5 Đặc san kỷ niệm 150 năm ngày Tổ Khai sơn chùa Từ Hiếu viên tịch, do môn đồ chùa Từ Hiếu ấn hành tại Huế, năm Pl.2541-1997.
6 Tiểu sử Ngài Tâm Tịnh, do Môn đồ chùa Tây Thiên biên soạn và ấn hành năm Nhâm Ngọ, 2002 tại Huế.
7 Lịch sử Phật giáo xứ Huế, của TT. Hải Ấn và Hà Xuân Liêm, bản in năm 2001, tại Tp Hồ Chí Minh.
8 Và một số tư liệu lịch sử có giá trị khác hiện lưu trữ tại các Thư viện.
9
Trong bộ “Tiểu sử Danh Tăng Việt Nam thế kỷ XX”của TT. Đồng Bổn, bản in
năm 1996, ở trang 108 và bộ “Lịch sử Phật giáo xứ Huế” của TT. Hải Ấn
và Hà Xuân Liêm, bản in năm 2001, ở trang 426 đều cho rằng:” Hòa thượng
Giác Tiên được cung thỉnh lên khai sơn và trú trì chùa Trúc Lâm vào năm Đinh Sửu, 1913”.
Theo Tâm Quang/nguồn link: daophatngaynay.com