11/11/2010 15:29 (GMT+7)
Số lượt xem: 64826
Kích cỡ chữ:  Giảm Tăng

CẦN PHÁT HUY HƠN NỬA NGHI LỄ PHẬT GIÁO

TRONG ĐỜI SỐNG TÂM LINH CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

Ban Nghi lễ Phật giáo An Giang

Suốt hơn 20 thế kỷ, Phật giáo đến với dân tộc Việt Nam như một luồng sinh khí. Phật giáo là một dòng sinh mệnh văn hóa tâm linh được người dân Việt đón nhận, đã trở thành tôn giáo chủ lưu có ảnh hưởng rất lớn đối với đời sống xã hội từ xưa đến nay. Trong khoảng thời gian như thế, Phật giáo luôn song hành cùng dân tộc trong tinh thần gắn bó keo sơn, xuyên suốt quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước. Phật giáo luôn mang tính thích nghi và hòa nhập từ học thuật, tư tưởng, triết lý v.v…, Phật giáo đã góp phần quan trọng tạo nên đạo đức, văn hóa của dân tộc Việt Nam, giá trị ấy đã mang lại sức mạnh to lớn góp phần vào sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc.

Ngay từ buổi đầu du nhập vào Việt Nam, Phật giáo đã được các bậc tiền nhân tiếp nhận một cách có chọn lọc, phát huy dựa trên điều kiện cụ thể của nước nhà, tạo nên một đạo Phật thuần túy Việt Nam và không ngừng phát triển. Thiết nghĩ, một xã hội phát triển mạnh mẽ và bền vững lâu dài thì hai điều kiện thiết yếu không thể thiếu được: Một là yếu tố vật chất, hai là yếu tố tinh thần. Đối với Phật giáo cũng thế, đời sông tâm linh rất quan trọng mà nghi lễ là món ăn tinh thần đối với người con Phật không thể không có. Nếu thiếu nghi lễ thì đời sống cá nhân rất khô khan và tẻ nhạt.

Chúng ta có thể hiểu nghi lễ một cách khái quát như sau: Nghi là dáng dấp, mẫu mực, nghi thức, nghi lễ, khuôn phép. Lễ là tụng, lễ nghi, lễ phục, lễ đường, lễ giáo, lễ bái, lễ khí, cúng tế, tôn thờ, cung kính. Trong nghĩa hẹp thì nghi lễ là nghi thức hành lễ, tụng niệm mang hình thức tín ngưỡng của một tôn giáo. Nghi lễ có ý nghĩa rất rộng, bao trùm cả hành vi, thái độ, tín ngưỡng, văn hóa ngôn ngữ… nói chung là sự thể hiện phong cách của con người có tín ngưỡng.

Người xưa nói: “Nghi tại tướng, lễ tại tâm”, bởi vậy người tu sĩ trượng phu xuất trần, phát túc siêu phương không thể không biết nghi lễ. Vì nghi lễ liên quan đến oai nghi, quy củ thiền môn, bởi lẽ “Hữu oai khả úy, hữu nghi khả kính”. Vì thế, khi nói đến nghi lễ, chúng ta không chỉ nói riêng về tán tụng, lễ cúng mà phải nói đến nhiều phương diện tổ chức trong sinh hoạt Phật giáo như:

+ Đại lễ của Giáo hội, đại lễ Phật đản, lễ vía chư Phật và Bồ tát; nghi lễ Đại Giới đàn, nghi lễ đặc biệt tại các tự viện như lễ khánh hỷ, lạc thành v.v…

+ Về lễ: Lễ nghi là cách thức bày tỏ, sắp đặt bên ngoài nhằm thể hiện lòng kính trọng bên trong. Lễ phục là y phục dành riêng trong lúc hành lễ. Về pháp phục của Tăng sĩ thì có 3 y là: Y 5 điều, Y 7 điều, Y 9 điều v.v.. Đức Phật đã dạy rõ trong trường hợp nào mặc 3 y như trong Luật đã dạy. Riêng Phật giáo Bắc tông, ngoài 3 y ra còn có những y phục khác như: Áo vạt khách, áo nhựt bình, áo tràng đi đường, áo tràng hành lễ… ngoài pháp phục lại còn có mão phục khác như: Mão Quan âm, mão Tỳ lô, mão Hiệp chưởng.

+ Lễ đường: là chỉ những nơi cúng tế, hành lễ. Trong Phật giáo, lễ đường còn chỉ nơi thờ chư Phật, Bồ tát. Chánh điện thờ tự như thế nào cho được trang nghiêm, hợp lễ từ cách bày thờ tượng, đồ tự khí, màu sắc, ánh sáng… phải được bố cục đúng chủ đề, mang nét thiền vị. Lễ khí là những khí cụ trong lúc cúng tế; lễ khí còn gọi là nhạc khí như: Đại hồng chung, chuông gia trì, bảo chung, mõ, trống, mộc bảng. Lễ tụng là sự thể hiện giọng đọc nhịp nhàng, trầm bổng theo một tiết tấu, ứng dụng trong mỗi khóa mang tính đặc trưng như giọng “ai” (buồn) đọc trong thời cầu siêu hương linh, cúng vong, công phu chiều v.v..; giọng “lạc” (vui) đọc trong thời công phu sáng hay cầu an…

Khi nói đến nghi lễ Phật giáo thì thường đi đôi với nhạc, nên gọi là lễ nhạc. Lễ cần phải có nhạc vì nhạc là âm thanh êm ái, du dương, trầm hùng, bi cảm… thể hiện tính thanh cao, tốt đẹp nhằm giáo hóa con người hướng tới đạo đức. Âm nhạc Phật giáo biểu lộ nghệ thuật văn chương, thể hiện tính thông cảm, sẻ chia và diễn đạt nghĩa lý cao siêu bằng tinh thần phổ cập. Khi viết về cổ nhạc Phật giáo, nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba đã nói: “Trong âm nhạc giữa đời, chúng ta nghe có điệu máu sôi như lửa cháy, như quỷ khốc, thần sầu, có khúc như say đắm reo cười, múa hát. Thật ra, âm nhạc nhà Phật là phản ánh của đời sống đạm bạc, an lạc tâm hồn, bình dị, thanh khiết của đạo mầu giải thoát khổ đau. Nội tâm thì bình tỉnh, an vui; ngoại cảnh thì thanh thoát, hồn nhiên, nên âm nhạc nhà Phật thấm nhuần tinh thần thoát tục siêu phàm, không vướng chút gì gọi là ưu sầu, phiền lụy”.

Trong tôn chỉ hoằng pháp, độ sanh, các Tổ sư ngày xưa đã biết dùng âm nhạc, nghi lễ làm phương tiện để tiếp cận quần chúng, các Ngài đã biết sử dụng âm nhạc để chuyển tải chân lý Đức Phật đến với mọi người nhằm mục đích hướng họ về với một đời sống thánh thiện.

Nghi lễ Phật giáo là sự thể hiện văn hóa, nghệ thuật Phật giáo để chuyển tải triết lý cao siêu của Đức Phật đi vào đời một cách nhẹ nhàng như nước thấm vào lòng đất. Biểu hiện lòng tôn kính Tam bảo là để bày tỏ niềm tin, lòng tôn kính của mình đối với Đức Phật, Chánh pháp và chúng Tăng; người Phật tử đảnh lễ cúng dường, ca ngợi Tam bảo. Niềm tin Tam bảo sâu sắc sẽ tạo một sự chuyển hóa trong tâm hồn con người. Nghi lễ thuật hóa triết lý nhất là đối với quần chúng bình dân, thông qua nghi lễ, triết lý cao siêu của Đức Phật được họ cảm nhận bằng trái tim hơn là bằng trí óc. Có những bài tán, kệ tụng rất thâm thúy, làm ta xúc động mạnh, làm tâm hồn ta sáng lên. Nghi lễ là một nghệ thuật chuyên chở triết lý đi vào lòng người. Nghi lễ cũng là một phương tiện độ sanh; trong các phương tiện dẫn dắt người vào đạo, nghi lễ là một phương tiện phổ biến, hiệu quả rất cao, như có nhiều người chưa bao giờ đi chùa, nhân dịp ông bà, cha mẹ qua đời, được quý Tăng, Ni giúp đỡ trong lễ tang, sau đó thì họ phát tâm đi chùa và quy y. Nghi lễ cũng là trang nghiêm đạo tâm và đạo tràng, vì con người rất dễ bị ngoại cảnh tác động, nên một khung cảnh của tự, viện trang nghiêm, có nghi, lễ quy cũ dễ làm cho lòng người có những rung cảm và nảy sinh những ứng xử thích hợp. Một cuộc lễ đúng cách có tác dụng làm cho tâm hồn định tĩnh, chuyên chú, trang nghiêm. Nghi lễ sẽ tạo thành không khí lễ, nghĩa làm cho con người có tập quán đạo đức hướng về điều tốt, điều phải một cách tự nhiên.

Ban Nghi lễ Phật giáo tỉnh An Giang nghĩ rằng, cần có nghi lễ thích ứng chung cho cả 3 miền của nước Việt Nam chúng ta. Khi đặt vấn đề cần có nghi lễ thích ứng và thống nhất chung cho cả 3 miền thì thật là một điều khó thực hiện. Bởi vì tùy theo phong tục, tập quán truyền thống của mỗi vùng, miền mà nghi lễ có những nét đặt trưng, thích nghi như: Ở miền Bắc, về phong thủy thì có núi cao hùng vĩ, có khí lạnh rét người, rừng rú bí ẩn… Về phong tục tập quán còn chịu ảnh hưởng nhiều từ nền văn hóa Trung Hoa, Ấn Độ nên nghi lễ miền Bắc còn mang phong cách thần linh, siêu hình. Ở miền Trung, về phong thủy thì núi cũng hùng vĩ nhưng không cao, sông nhiều, nối dài mà không sâu nhưng mang đầy vẻ thơ mộng; cho nên giọng điệu thâm trầm thấm đượm mùi Thiền vị và đây cũng là đất Thần kinh xưa nên nghi lễ cũng ảnh hưởng phong cách cung đình, mang vẻ quí tộc. Còn ở miền Nam, về phong thủy có khí hậu ôn hòa, đồng ruộng mênh mông, sông dài chảy suốt, cuộc sống con người được thiên nhiên ưu đãi. Về phong tục, tập quán còn chịu ảnh hưởng phần nào nền văn hóa bản địa khmer nên con người chất phát, hiền lành, cá tánh bộc trực nhưng an phận tùy duyên, dễ tha thứ. Về nghệ thuật thì ảnh hưởng nhiều vào cải lương, hát bộ, ca tài tử theo tâm trạng của những người xa xứ, chính vì thế nghi lễ ở miền Nam cũng tùy duyên, giọng điệu thì trầm bổng, tán thì lúc nhặt, lúc thưa.

Do tính bất đồng ấy, thiết nghĩ nghi lễ Phật giáo nên chia thành 2 loại:

1. Nghi lễ truyền thống.

2. Nghi lễ đại chúng.

Như vậy, nghi lễ truyền thống thì sử dụng đúng những nét nhạc cổ điển của Phật giáo Việt Nam tùy theo đặc điểm từng miền; nghi lễ đại chúng thì đơn giản hóa, phải thống nhất những văn bản Việt ngữ để chúng Tăng dù là miền Bắc, miền Trung hay miền Nam, khi xướng, tụng thì đại chúng vẫn họa theo được.

Thống nhất nghi lễ Phật giáo Việt Nam là vấn đề cấp thiết, không chỉ những người làm vai trò nghi lễ mới có trách nhiệm mà các Ban, ngành khác của Giáo hội cũng phải phối hợp đồng đều, quan tâm hỗ trợ nhau để có cùng một cái nhìn nhất quán. Nghi lễ Phật giáo giống như linh hồn của một dân tộc nên không thể để có những thiên kiến lệch lạc, đánh giá sai lầm về nghi lễ một cách hời hợt, từ đó, người thực hành nghi lễ phải thể hiện có đạo phong. Để đáp ứng yêu cầu tín ngưỡng của quần chúng và thích nghi với phong tục, tập quán, văn hóa từng vùng, miền khác nhau, chư Tổ đã nâng nghi lễ lên thành một pháp môn, phương tiện với sự quy chuẩn hóa cao về mặt thẩm mỹ và nghệ thuật văn hóa, với danh nghĩa pháp môn Nghi lễ Thiền gia.

Nghiêm là cốt của lễ, hòa là lõi của nhạc; để lễ được trang nghiêm thì lễ phải có nghi, để nhạc được hòa thì nhạc phải có điệu. Nghi nghiêm, nhạc hòa là hai yếu tố cơ bản của nghi lễ Thiền gia. Do vậy, người thực hành và truyền bá nghi lễ cần hội đủ cơ bản ba phẩm chất là:

1. Tướng mạo phải trang nghiêm, 2. Phải có định lực và tu tập tâm linh, 3. Có thẩm quyền về nghi lễ. Trong ba phẩm chất này, thì hai phẩm chất đầu tiên là điều kiện cần, phẩm chất sau cùng là điều kiện đủ của người thực hành nghi lễ.

Ngoài nghi lễ Thiền gia, chúng ta còn thực hiện nghi lễ trong tinh thần đền ơn, đáp nghĩa đối với những người đã hy sinh xương máu cho nền độc lập tự do của tổ quốc, để hôm nay chúng ta sống trong cảnh thái bình, ấm no, xiển dương Chánh pháp. Đã có nhiều đàn chuẩn tế cầu siêu bạt độ, chẩn thí âm linh được các cấp Giáo hội phối hợp với chính quyền tổ chức tại nhiều tỉnh, thành nhằm mục đích thể hiện tinh thần đền ơn đáp nghĩa như đại thi hào Nguyễn Du có bài văn tế:

“Thương thay thập loại chúng sinh

Hồn đơn, phách chiết lênh đênh quê người.

… Đàn chẩn tế vẳng lời Phật giáo

Của có chi bát cháo nén nhang

Gọi là mảnh áo thỏi vàng

Giúp cho làm của an đường, thăng thiên”

Đạo Phật hiện diện trên đất nước Việt Nam hơn 2000 năm, nghi lễ Phật giáo cũng đã tạo thành dấu ấn tín ngưỡng, văn hóa và đã góp phần xây dựng đạo đức và truyền thống văn hóa tâm linh không thể thiếu của dân tộc Việt Nam. Nghi lễ Phật giáo cũng là một pháp môn tu tập có tác dụng chuyển hóa khổ đau. Nghi lễ cũng là một phương tiện hoằng pháp lợi sanh rất có hiệu quả. Để tiếp tục thực hiện tốt đẹp chức năng của nghi lễ Phật giáo trong thời hiện đại, chúng ta cần quan tâm hơn việc thay đổi những gì không còn phù hợp, đồng thời tạo sự thống nhất chung để làm cho nghi lễ Phật giáo vẫn mãi là nét đẹp văn hóa Phật giáo và của xã hội, tiếp tục đáp ứng nhu cầu hoằng pháp trong thời kỳ mới ./.

 


Trên Facebook

 

Âm lịch

Ảnh đẹp

Từ điển Online

Từ cần tra:
[Dịch văn bản]
Tra theo từ điển: