Chùa Bửu Minh

Thơ bà Huyện Thanh Quan còn truyền lại, bài được phổ biến sâu rộng nhất là bài Qua Đèo Ngang Tức Cảnh:

Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà

Cỏ cây chen đá lá chen hoa

Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông chợ mấy nhà

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc

 

           Thương nhà mỏi miệng cái gia gia

Dừng chân ngoảnh lại trời non nước

 Một mảnh tình riêng ta với ta.

 

Các nhà thi học đều khen là một bài thơ hay.

 

Phạm Quỳnh trong một số Nam Phong ra năm 1917, phê bình:

 

Rằng hay thì thật là hay. Nhưng hay quá, khéo quá, phần nhân công  nhiều mà về thiên nhiên ít, quả là một bức tranh cảnh vậy.”

 

Trong bài Quốc Văn Diễn Giảng  ngày 2 tháng  3  năm

1939, Tản Đà tiên sinh viết:

 

“Thơ bà Huyện Thanh Quan, bài Qua Đèo Ngang, 2 câu tam tứ chúng ta thường nghe rằng: “Lom khom dưới núi tiều vài chú. Lác đác bên sông chợ mấy nhà.” Mới đây tôi được nghe một ông bạn thanh  niên  nói chuyện từng trông thấy một bản chữ Nôm thời xưa chữ thứ năm câu tứ là chữ Rợ chớ không phải Chợ. Tôi hỏi nữa thời nói: “Nguyên văn viết chữ NHÂN ĐỨNG bên chữ TRỢ. Như thế thì RỢ thực phải, mà RỢ đối với TIỀU mới cân, chỉnh hơn. Nhân nghĩ lại từ xưa, tôi riêng chê thơ bà Thanh Quan, văn tả cảnh không được sát thực lắm. Nay nghe câu chuyện của ông bạn nói đó, mà  tấm lòng đối với người trước, khinh trọng có đổi thay.”

 

Đọc mấy lời của Tản Đà tiên sinh, một túc nho đã từng qua lại Đèo Ngang là cụ Ngô Văn Nhượng ở Diên Khánh Khánh Hòa nói rằng:

 

“Dọc theo Đèo Ngang, một bên là núi, một bên là biển, chớ không  có chợ cũng không có sông. Cặp trạng bài Qua Đèo Ngang tôi nghe truyền là:

 

Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác dông rợ mấy nhà.đác trên

 

 

Đứng về mặt thực cảnh thì câu: “rợ mấy nhà” hơn câu “chợ mấy nhà”. Câu “trên dông rợ mấy nhà” hơn câu “bên sông rợ mấy nhà”. Song đứng về mặt văn chương, câu nào cũng không ổn đáng. Bởi vì  vài chú tiều mà đảo trang thành “tiều vài chú” thì rất xuôi tai còn “mấy nhà chợ” (ai lại nói nhà chợ bao giờ) “mấy nhà rợ” (cũng như mấy nhà Thượng) mà nói “chợ mấy nhà”, “rợ mấy nhà” thì nghe thật trái tai.

 

Huống nữa đề bài là Qua Đèo Ngang mà cặp trạng không có gì là  Đèo Ngang cả. Những cảnh vật “tiều lom khom dưới núi” “nhà lác  đác bên sông” hay “rợ lác đác trên dông”… hễ nơi nào có nước  có  non thì đều có, chớ có riêng gì Đèo Ngang. Đã biết rằng đây là thơ tức cảnh, chỉ tả những gì chợt thấy trước mắt trong nhất thời, chớ không phải thơ tả cảnh hay vịnh cảnh mà phải nêu những cảnh đặc biệt và thường tồn của nơi mình tả mình vịnh. Tuy vậy những gì mình thấy cũng phải mang một vài nét đặc biệt để khỏi lầm lẫn với những nơi khác. Chớ ở đây, muốn nói về con đèo nào khác thì chúng ta chỉ bỏ tên Đèo Ngang thay tên con đèo ấy vào thì “bức tranh cảnh”  của ông Phạm Quỳnh trở thành bức trướng, đã thêu sẵn ở ngoài phố mua về điền vào lạc khoản, ngày tháng và tên tuổi của người mua, là có được một món quà hỷ hạ hay vật phúng điếu phổ thông.

 

Được ca tụng nhất là cặp luận. Ca tụng cái khéo của sự chơi chữ: “nhớ nước” đi với “quốc quốc”, “Thương nhà” đi với “gia gia”. Nhưng vì quá chú tâm đến cái khéo mà không lưu ý đến chỗ vụng  là 2 chữ “mỏi miệng”. Nhớ nước thì đau lòng là phải chớ thương  nhà sao lại “mỏi miệng”. 2 chữ “mỏi miệng” vốn ngậm chứa ý nghĩa không tốt. 2 chữ đó thường dùng để tỏ lòng bất mãn vì lời nói tiếng  kêu của mình không có hiệu quả, kêu không thấu, nói không ai nghe. Có gì đáng bất mãn trong việc “thương nhà” đâu mà phải thốt ra 2 tiếng “mỏi miệng”.

 

Hai câu nhớ nước thương nhà không phải là 2 câu độc sáng. Ý vốn toát nơi bài thơ chữ Hán của Trần Danh Án làm lúc theo vua Chiêu Thống chạy sang Tàu lần thứ nhất: chúa một nơi, tôi một nơi:

 

Giá cô tại Giang Nam Đỗ quyên tại Giang Bắc Giá cô minh gia gia

Đỗ quyên minh quốc quốc

Vi cầm do hữu quốc gia thanh

Cô thần đối thử tình vô cực.

 

Nghĩa là:

 

Giang Nam thì chim đa Giang Bắc thì chim cuốc Chim đa kêu gia gia

Chim cuốc kêu quốc quốc

Nghe chim kêu tiếng Quốc gia

Lòng cô thần những xót xa trăm chiều!

 

Bài thơ của Trần Danh Án, lời tự nhiên bình dị, tình lại chân thiết, thật dễ rung động lòng người đọc người nghe. 2 câu của bà Thanh Quan bị những nét tiểu xảo không mấy tinh vi làm giảm sức truyền cảm.

 

Cho nên 2 câu luận cũng như 2 câu trạng bài Qua Đèo

Ngang, không có gì đáng khen ngợi cho lắm.

 

Thật đáng tán thưởng là 2 câu chuyển kết:

 

Dừng chân ngoãnh lại trời non nước

Một mảnh tình riêng ta với ta

                             

Cảnh bao la nơi Đèo Ngang và tình lẻ loi của người qua đèo, gồm  trọn vẹn trong 14 chữ vừa điêu luyện vừa tự nhiên. Chính nhờ cặp chuyển kết mà bài Qua Đèo Ngang được bất hủ.

 

Đọc bài Qua Đèo Ngang, tôi có cảm giác đi lên một ngọn đồi trơ  trụi, khô khan, khi tới đỉnh chợt thấy vọng cảnh rộng rãi tươi xanh, lại được một ngọn gió hương phưởng phất.

 

Nhưng các sách đã xuất bản từ trước đến nay đều chép là “Dừng chân ĐỨNG lại” cho nên câu thơ đã bị chế diễu là “giờ tý canh ba”. Nay đã đưa “châu về hợp phố” thì câu thơ đã không có chữ vô dụng mà ý thơ lại gia tăng: “Qua khỏi đèo, không nỡ dức tình đi luôn mà phải “dừng chân ngoãnh lại”.

 


 

http://hoangphap.info/Page.aspx?ArticleID=4470&SubID=2&ID=4


©2010 -2020  Chùa Bửu Minh | Homepage